Sunday, October 29, 2023

Người đàn bà thứ hai - Lời mẹ dặn


 

Kính tặng mẹ 


Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con
Vì trước con anh ấy là của mẹ
Anh ấy có thể yêu con một thời trai trẻ
Nhưng suốt đời anh yêu mẹ, mẹ ơi!

Mẹ đã sinh ra anh ấy trên đời
Hình bóng mẹ lắng vào tim anh ấy
Dẫu bây giờ con được yêu đến mấy
Con vẫn chỉ là người đàn bà thứ hai

Mẹ đừng buồn mỗi hoàng hôn hay mỗi sớm mai
Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ
Nhưng con chỉ là cơn gió nhẹ
Mẹ mãi là bờ bến của đời anh

Con chỉ là cơn mưa mỏng manh
Mọi người đàn bà khác có thể thay thế con trong trái tim anh ấy
Nhưng có một tình yêu suốt đời âm ỉ cháy
Anh ấy chỉ dành cho mẹ, mẹ ơi!

Anh ấy có thể cùng con đi suốt cuộc đời
Cũng có thể chia tay ngày mai.. có thể..
Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ
Dù thế nào con cũng chỉ thứ hai…


Bài thơ này được đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam ngày 18 tháng 5 năm 1992, khi tác giả còn là sinh viên trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, và được trao Giải nhất Thơ sinh viên cụm 10, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Bài thơ đã được nhạc sĩ Xuân Phương phổ nhạc thành bài hát cùng tên. Một số nơi chép nhầm tên tác giả là Phan Thị Vĩnh Hà hay Phan Vĩnh Hà.


Lời dặn của mẹ : KHI MẸ CHẾT !

Nếu mẹ chết, xin các con đừng khóc!
Hãy kìm lòng trong giờ phút biệt ly.
Bởi xót thương, cũng không thể làm gì?
Tâm luyến ái mẹ sẽ về nẻo xấu!

Nếu mẹ chết, hãy mời Ban Hộ Niệm.
Không đủ duyên thì tự mình làm!
Tâm chí thành niệm Phật cầu vãng sanh.
Luôn bên mẹ ít nhất mười bốn tiếng!
 
Nếu mẹ chết, đừng tiệc tùng, đình đám.
Chỉ hương, hoa, chay tịnh mà thôi.
Nhớ, đừng làm theo thói quen người đời,
Coi giờ tốt dễ bị người lợi dụng!

Nếu mẹ chết, các con đừng lay, đụng,
Thân mẹ đau như rùa sống lột mai.
Hiếu thảo thì Thân, Khẩu, Ý thật tâm,
Cầu sám hối, các tội đời giúp mẹ!

Cả cuộc đời mưu sinh này nọ,
Ai biết mình bao tội lỗi lỡ gây?
Phút lâm chung thân xác héo gầy.
Oan gia, trái chủ đâu dễ tha cho mẹ?
 
Các con ơi! Thọ mạng khi đã đoạn.
Ai không đi? Thương xót cũng vậy thôi ..!
Bởi mỗi người khi đến với cuộc đời,
Trả xong nợ là ra đi, vĩnh biệt!

Hãy niệm Phật, cầu vãng sanh Cực Lạc,
Niệm Di Đà sao cho thật thiết tha!
Hãy nghĩ: Niệm để đưa mẹ về nhà,
Nơi Cực Lạc không khổ đau, ân oán!

Các con ơi! Nhớ là khi mẹ chết,
Đừng phí hoài tiền của làm chi!
Ít nhất bốn chín ngày: Niệm Phật, trai giới,
Kinh Địa Tạng và Kinh Di Đà cho mẹ!

Từ lúc chết, cứ bẩy ngày một thất,
Thập điện Diêm vương định nghiệp khảo tra!
Hai ngọn đèn cùng với hương, hoa,
Cúng phóng sinh, in kinh, làm thiện...

Được vậy rồi hồi hướng cho tất cả,
Cho hương linh tiên tổ, mẹ, cha,
Cho oan gia, trái chủ gần xa,
Làm như thế, giúp mẹ mau siêu thoát !

Khi mẹ chết, chỉ chết về thể xác!
Linh khổ đau biết phó thác về đâu?
Mịt mờ trong tiếng các con cầu.
Không tỉnh thức, mẹ mới là khổ nhất!
 
Mộ phần, cũng chỉ là không thật!
Kỷ niệm thôi, không cần phải cầu kỳ.
Hỏa thiêu xong, xin hãy chôn mẹ đi!
Nén hương cuối là nghìn thu vĩnh biệt!

Nếu mẹ chết, xin hãy thương thành thật!
Vâng lời này và niệm Phật nghe con !!!
 NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Sunday, August 2, 2020

Tháng tám về: 

Tháng Tám về!
Tác giả: Phan Thúc Định

Tháng Tám về làm rộn rã những tim yêu!
Anh định chôn lòng mặc thu nèo trước cửa.
Bởi anh biết thu về là tim em chia nửa
Nửa cho anh, nửa lơ lửng lưng trời!

Tháng Tám về lá sửa soạn áo thôi!
Gói ghém sắc xanh gửi đất trời sắc đỏ
Ngõ nhỏ dùng dằng tà áo dài cuối phố
Xa xăm lòng nức nở nỗi xa xăm...

Tháng Tám về thổn thức phận long đong!
Một khung trời trong veo tưởng chừng không có đáy.
Một vầng trăng hanh hao đủ làm người yếu lòng trốn chạy.
Bởi soi bên nào cũng thấy khuyết hao!

Tháng Tám về tự hỏi phải làm sao?
Để tổng của mùa thu và giấc mơ không đổi
Nó tựa hồ ánh mắt anh gặp em lần đầu...bối rối!
E thẹn nhìn dầu lồng ngực đã vỡ tung...!

----------------------

Tháng tám
Tác giả: Đỗ Hương

Tháng tám về gánh theo nửa mùa thu
Còn một nửa vắt ngang trời cuối hạ
Loài cây gì nở bông trắng xoá
Hình như bông "Giành Giành " còn để giành
mãi phần anh.

Tháng tám trong vườn hoa lá đến mong manh!
Sương e lệ ngắm mình qua gương nắng
Mới tinh mơ bọn sẻ con bắng nhắng
Rơi bộp xuống đường_
màn nghi lễ hỏi thăm
sợ chạm vào hương hoa sữa ngàn năm.

Tháng Tám nhón chân sợ trăm năm tình động
Mây đếm tuổi nhắc mình lúng túng
Nhốt mùa thu bằng nỗi nhờ thầm thì
Tháng tám mong manh thơ không dám gửi đi.

Tay vụng về biết cất đâu lóng ngóng
Lỡ vô tình làm vỡ tan sợi nắng
Biết lấy gì để chuộc lỗi với mùa thu
Níu cả mùa thu bằng
tháng tám mây mù.

-------


THÁNG TÁM VỀ
Tác giả: Trịnh Thanh Hằng

Tháng tám về em còn nhớ không em
Heo may chở những tháng ngày yêu dấu
Cánh bướm vàng mượn bờ vai neo đậu
Cô bé nào ngước mắt trộm nhìn sang.

Tháng tám về tà áo trắng ngỡ ngàng
Hương cốm mới vương tóc ai tung gió
Lá trải vàng nơi con đường mình có
Những hẹn hò say đắm mắt môi ai.

Tháng tám về buông những tiếng thở dài
Hồng xác pháo vương bước chân gái nhỏ
Em hỡi em có nghe trong tiếng gió
Tim chết rồi mắt ướt lệ nhòa mi.

Tháng tám về em hãy cứ đi đi
Anh ở lại gói thu vào dĩ vãng
Để một mai khi bóng chiều bảng lảng
Nhớ nhau nhiều mở kí ức ra xem.

Tháng tám về em còn nhớ không em...
Thơ Trịnh Thanh Hằng

Wednesday, July 10, 2019

Trinh Tủng Truyện - Hoàng Tô

Lời tựa

Đầu năm Giáp Sửu bản ngã nhân chuyến công du thượng nguồn sông Canh La có tranh thủ dạo gót vào rừng lấy chút khí xuân. Tiết trời mát mẻ, gió hây hây, lác đác khắp một vùng đồi núi sơn cước là những tiếng thú tìm đàn, tiếng chim gọi bầy. Những thảm cỏ xanh rờn nằm dài trong nắng, thân ngọn đẫm sương run run căng tràn nhựa sống. Những cây liễu tha thướt như những ngón tay gầy xoè ra mà mơn trớn và ve vuốt bầu trời [1]. Phong cảnh thật chẳng khác gì chốn thần tiên, vừa hữu tình vừa vô ý.

Mải đắm mình vào thiên nhiên mà không biết trời tối lúc nào, đến khi chợt tỉnh thì vầng trăng đã lấp ló đầu non, trải những ánh vàng lên khắp thảm rừng trước mặt. Chợt mang mang một cảm giác Liêu trai, một nỗi sợ mơ hồ, run rẩy mà đê mê thích thú. Quả nhiên một nàng con gái vô cùng nhan sắc, tóc vấn trâm cài, mình vận độc chiếc pun trắng ngắn tay màu cam tha thướt bước ra từ khoảnh rừng trước mặt. Nàng ngạc nhiên vì có kẻ giữa đêm khuya dám lang thang nơi thâm sơn cùng cốc, đoạn nắm lấy tay cười khanh khách mà kéo về nhà, kẻo con ma rừng làm hại.

Nhà nàng là một căn nhà sàn trên một ngọn đồi, không tiện nghi nhưng ấm cúng, gia tài chỉ có bộ dàn Karaoke bọc da báo là có đôi chút giá trị. Trong lúc nàng pha cà phê đãi khách bản ngã buồn tay giở mấy cuốn sách đầu giường, thấy toàn là Hendreas Bollean, Jean Meadaux với Trương Nhũ Hoa, cảm thấy khâm phục vô cùng. Lát sau có ông già râu tóc bạc phơ ghé về, nàng giới thiệu là ông chú đẻ. Ông già tỏ ra rất hiểu biết tuy rằng hơi vô duyên, rằng ông bỏ ra 12 cây để mua quả đồi gần 2 hecta và dựng căn nhà sàn để nghỉ cuối tuần, cũng là để sau này về hưu làm chốn điền viên, chăm vài gốc vải, nuôi mấy con gà.

Uống tách cà phê, nghe ông già kể chuyện thời hoàng kim. Nàng xem chừng buồn ngủ, chốc lại dụi mắt, miệng ngáp liên tục. Câu chuyện về thời hoàng kim của ông đã kéo dài từ quá khứ lên hiện tại rồi hướng thẳng tới tương lai. Cảm giác không thời gian trở nên lẫn lộn. Nàng gục đầu trên đi văng ngủ, mắt chớp chớp duyên dáng. Ông già kể về thời trai trẻ chinh chiến, một đêm ngủ với ba bốn người, mà người nào cũng ngủ say, bản thân ông cũng ngủ say. Bản ngã cũng chuẩn bị ngủ say, lấy tay che miệng ngáp. Ông già chừng biết ý, nói: “Chủ nhà đãi khách là muốn khách thưởng văn. Nay văn xuôi đã không vào thì xin thắp nhang mà đọc văn vần vậy”. Nói đoạn bèn với tay trong đống sách báo dưới sàn nhà, lấy lên một cuốn vở nham nhở bìa ép plastic, cất giọng đọc. Nàng con gái cũng đã bừng tỉnh, thấy ông chú đẻ đọc thơ thì đột nhiên lao tới ôm ghì lấy bản ngã mà hôn.

Bản ngã vốn thích thơ, nay lại vừa được nghe giọng ấm ngâm nga, vừa được má ấp miệng kề với giai nhân tuyệt thế thì lấy làm thoả thích vô cùng, lưỡi như nếm được từng câu, tay như sờ được từng ý, còn tâm quả nhiên thuộc lòng từng chữ. Ông già đọc hết bài thơ cũng là lúc có tiếng gà eo óc gáy, bản ngã bỗng rùng mình dụi mắt, thấy đang nằm tênh hênh dưới một căn nhà sàn bỏ hoang, đầu gối lên một mảnh da báo rách bươm, xung quanh cỏ lác mọc cao quá rốn, nên lấy làm kinh sợ vô cùng. Duy có bài thơ là vẫn nhớ như in từng câu từng chữ, bèn về nhà lấy giấy hồng điều chép lại. Thấy thật là tuyệt tác, hiếm có xưa nay.

Bài thơ dài hơn ngàn câu nhan đề là “Tán tương ti tuyệt tác truyện”. Sau này khi bản ngã biên soạn lại lấy tên nhân vật chính mà đổi thành “Trinh Tùng Truyện” cho ngắn gọn và dễ hiểu. Lời lẽ cổ văn đơn sơ, thể loại dân dã lục bát, nội dung ca ngợi nghệ thuật dục tình.

Về sau nhân lúc cao hứng có lấy bản thảo đưa cho nhà thơ H, nhà văn B, lập trình viên L, hoạ sĩ M, tiến sĩ hoá sinh G, nhạc sĩ V… xem qua một lượt. Tất cả bọn họ đều lắc đầu ngảnh mặt bĩu môi nhíu mày, nhẹ thì phê là cợt nhả tầm thường, là không vần không ý, nặng thì mắng là bậy, là bẩn, là vô văn hoá, là phi đạo đức… Bản ngã lúc đó cũng hoang mang không hiểu vàng thau thế nào, nhưng nhớ lại giọng đọc của ông chú đẻ và nụ hôn giai nhân hồi nào thấy kỳ lạ không thể bỏ qua mà quyết tâm khảo cứu. Quả nhiên ghi lại được nhiều điển cố làm chú thích, làm cho mạch truyện trở nên minh bạch cuốn hút. Càng về sau càng thấy hứng thú vô cùng.

Mất hơn 152 năm khảo nghiệm nghiêm túc, lại nhờ có tiên sinh họ Quách một mực động viên khích lệ nên cuối cùng bản ngã mới dám soạn thảo toàn văn trên máy vi tính, in laser vài bản tặng bằng hữu thân thuộc đọc chơi. Nếu chẳng may câu chuyện lọt tới tay những người có đạo đức đoan chính, thích rạch ròi trắng đen, lại hay câu nệ phải trái hoặc chưa từng tơ tưởng đến chuyện trai gái thì xin vứt sách rửa tay, bỏ qua như chưa hề trông thấy, được như thế thì bản ngã cảm tạ lắm lắm.

Tiết Kim miêu, chiều Hạ vũ, Thiên niên kỷ thứ 2..


Ngày xuân vạn vật truy hoan
Nhẩn nha tới trấn Bình Khang [2] vui vầy
Chốn xưa ngọc đống hoa đầy
Đàn Tinh [3] trùng phím, cung dây hững hờ
Thơ hay ở chỗ bất ngờ
Người hay ở chỗ đêm mơ xuất tình
Rằng xưa ở chốn đế kinh
Có nhà hiền triết họ Trinh tên Tùng
Đức thì ngôn hạnh công dung
Thi kỳ nhạc hoạ kiếm cung đều tài
Hình long ẩn, dáng hoa đài
Râu ba tấc rậm, lông dài tám phân
Dương hoàn viên đại kỳ lân
Cặp tay như hổ cặp chân như mèo [4]
Trinh Tùng thuở nhỏ còn nghèo
Sống cùng cha mẹ bên đèo Mai Hoa [5]
Một lòng thờ mẹ kính cha
Sáng vào kiếm củi, tối ra đánh giầy
Thong dong bạn với gió mây
Hươu nai giúp thịt, cáo cầy mua vui
Gia tài một chiếc thuyền mui
Một cây đàn mộc, một gùi sách thơ
Khi buồn mộng tưởng vẩn vơ
Gẩy đàn vài khúc, đọc thơ mấy bài
Khi nhàn nghiên bút miệt mài
Những khi cao hứng múa vài đường c?ôn

*****

Có người con gái cùng thôn
Cảm thương chàng có trí khôn hơn đời
Một đêm đầy ắp sao trời
Tình riêng nàng mới thốt lời cùng Trinh
“Chàng ơi thiếp sống một mình
“Ngoài hai mươi tuổi còn trinh nguyên này
“Chữ yêu trằn trọc bao ngày
“Hôm nay dâng trọn hai tay cho chàng”
Trinh nghe rất đỗi hoang mang
Rằng: “ơn vân vũ [6] có nàng đoái trông
“Chỉ hiềm có cũng như không
“Trước sau đành phải phụ lòng Tố nga [7]
“Bến Hà châu [8] có bao xa
“Mà không thoát cảnh kinh thoa bố quần [9]”
Nàng rằng: “Chàng chớ ngại ngần
“Thiếp đây mong được một lần mà thôi
“Quyết sau không hận không đòi”
Trinh nghe thầm nghĩ: “Hẹp hòi làm chi
“Đường đường một đấng nam nhi
“Há đâu bỏ lỡ xuân thì gái tơ”
Nghĩ rồi quấn chặt người thơ
Thoát tan y phục, sẫm sờ mắt môi
Đài dao sóng dậy từng hồi
Hoa thơm thoả hái, núi đồi thoả trông
Khác nào đâu cảnh tiên bồng
Khác nào ả Chức động phòng Ngưu Lang [10]
Có người khách sớm sang ngang
Qua đường bắt gặp chàng nàng yêu nhau
Vốn nghề dịch số thâm sâu
Đêm qua lại thấy sao Câu [11] sáng bừng
Ngắm Trinh kỹ, khách cả mừng:
Tinh hoa phát tiết từ lưng đến đầu
Nhẹ nhàng khách tới mé sau
Đưa tay nắm lấy hạt cau phũ phàng
Nàng cười: “Nếu định liên sàng [12]
“Thì đây cũng chẳng bẽ bàng làm chi
“Cho dù hai bậc tu mi [13]
“Một thân con gái xá gì gian truân!”
Khách rằng: “Ta chẳng tiếc thân
“Chỉ lo có kẻ sẩy chân vô tình
“Vui chốc lát, hận ba sinh…”
Trinh nghe biến sắc thất kinh dập đầu
“Tiên sinh dạy bảo đôi câu
“Mà hồn giác ngộ ngõ hầu trăm năm”
Khách rằng: “Trăng khuyết lại rằm
“Không vui không hận, không nằm không yêu
“Đời người xem tựa cánh diều
“Không người thả, mặc gió chiều đẩy đưa
“Khối tình dầu cũ hay chưa
“Mà càng yêu lắm càng mưa bão nhiều
“Sắc tài tránh nhất tự kiêu
“Phan An, Tống Ngọc [14] mỹ miều mà chi
“Nên chăng đương lúc xuân thì
“Miệt mài đèn sách mà thi Tú tài!”
Tỉnh ra vội mặc quần dài
Khấu đầu lệ nhỏ ra hai ba hàng…

*****

Thoi đưa chốc đã thu sang
Lên kinh trọ học nhà hàng Thuỷ Tiên
Đêm đêm cần mẫn bút nghiên
Ngày buôn hoa quả kiếm tiền nuôi thân
Tài lương đống [15], đức chuyên cần
Kinh nam sử bắc mười phần đã thông
Uyên sâu kim cổ tây đông
Tứ Thư vanh vách, Thất Công [16] lầu lầu.
Làm thơ một bước hai câu [17]
Ngôn như lưu thuỷ, ý hầu cao sơn.
Một chiều thi hứng đương cơn
Rượu ngon một hũ, mẫu đơn một bình
Chợt nghe vẳng tiếng cười tình
Nhìn ra tha thướt bóng hình giai nhân
Tóc mây buông xoã đôi chân
Đỏ hồng gót ngọc, trắng ngần bờ vai
Hương thơm nức toả dặm ngoài
Tuyết lê nhu nhú, hình hài thanh tân
Trinh rằng: “Trước lạ sau thân
“Xin đừng e lệ tần ngần mà chi
“Cung thương [18] dẫu chẳng ra gì
“Cũng xin đề tặng đường thi một bài”
Rồng bay phượng múa miệt mài
Thoắt đề trên quạt những hai bài liền
Giai nhân cảm kích vô biên
Nguồn thơ lại được tay tiên hoạ vần…
Lòng thơm ngát mộng mỹ nhân
Hồn cuồng si ủ những gần những xa
Chán thơ uống rượu xem hoa
Say sưa men rượu ngân nga men tình
Nàng như nóng bức trong mình
Bao nhiêu xiêm áo thình lình cởi ra
Trinh bèn hôn thịt thơm da
Tay đưa lên ngực tay sà xuống mông
Tưởng rằng nhẵn tựa mỡ đông
Nào ngờ tóm phải chùm lông, giật mình!
Cầm đuôi đoán chắc hồ tinh [19]
Nàng cười: “Cái giống đa tình đừng lo
“Miễn là bên nhận bên cho
“Đã yêu bất kể nhỏ to, giống loài”
Trinh nghe hợp lý thở dài
Khẽ đưa bảo bối từ ngoài vào trong…
Canh ba hành sự vừa xong
Gà vừa gáy sáng đã không thấy nàng
Mùi hương còn thoảng bên màn
Thơ còn tươi mực trên bàn cổ thư
Một ngày đầy ắp tâm tư
Một đêm tri kỷ thành như vợ chồng

*****

Khoa thi năm ấy mùa đông
Đề thi vớ vẩn Trinh không thèm làm
Đường công danh vốn chẳng ham
Xé giấy vứt bút bỏ sang quán ngồi
Quán chủ hai gái sinh đôi
Cô chị đi lấy chồng nơi đất người
Cô em xinh đẹp tuyệt vời
Hàm răng như ngọc nụ cười như hoa
Thoạt trông thấy khách phương xa
Dáng đào tha thướt bước ra đón mời
Rằng: “Trông dung mạo đoán người
“Đường hoan lộ [20] hẳn rạng ngời tương lai”
Trinh buồn: “Ngán nỗi trần ai
“Công danh bất quá Tú tài, Trạng nguyên
“Bảng vàng chắc hẳn đứng tên
“Vì chê đề dở cho nên không làm”
Nàng nghe thương cảm vô vàn
Đầm đìa bỗng chốc đôi hàng lệ trong
“Thương chàng phận bạc long đong
“Học ba năm rưỡi mà không tiếc gì
“Khinh đề bỏ bút không thi
“Quả là khí phách nam nhi ngút trời”
Nói xong rót rượu ra mời
Hai tay nâng cốc tận nơi miệng chàng
Phía trong vạt áo ngực nàng
Tuột ra vài cúc trông càng lả lơi
Trinh liều hôn nhẹ làn môi
Rồi luồn tay xuống tận nơi trong cùng
Nàng hơi thoáng chút hãi hùng
Nhưng không cự tuyệt vẫy vùng, lạ chưa!
Nhịp nhàng loan phượng mây mưa
Vượt qua hai ải rồi đưa vào nàng
Hỡi ôi đào huyết tuôn tràn
Ba năm một phút rách tan mất rồi…
Lát sau trí phục lực hồi
Trinh nâng nàng dậy gạn lời hỏi han
Hỏi tên, đáp: “Ngọc Linh San”
Hỏi gia cảnh, đáp: “Cháu quan Tư Đồ”
Hỏi quê, “Sinh tại kinh đô
“Tuổi vừa mười sáu, cam lồ [21] vừa ra
“Chưa từng ân ái gần xa
“Chưa từng khoe liễu hiến hoa bao giờ
“Duyên châu đỏ thắm đường tơ [22]
“Những mong quân tử chọn giờ vu qui [23]
“Nguyện về cử án tề mi [24]
“Nâng khăn sửa túi tiếc gì tri âm [25]”
Trinh rằng: “Lỡ gãy ngọc trâm
“Phù dung lỡ nát, sầu câm lỡ lời
“Chí trai ngang dọc đất trời
“Dễ đâu chôn chặt một đời vào hoa
“Thôi nàng thứ lỗi cho ta
“Thú vừa cùng hưởng, hận đà chung đôi”
Linh San tím mặt bầm môi
Nghẹn ngào uất hận một hồi mới tan
Rằng: “Từ đây dứt tơ đàn
“Có nợ có trả, có oan có đòi”
Trinh nghe nàng doạ bật cười
Mặc quần không nói một lời bỏ đi

*****

Chiều mưa lạnh ướt làn mi
Đìu hiu liễu rủ, tường vi héo gầy
Rượu tràn uống đã ba ngày
Càng uống càng tủi, càng say càng buồn
Càng sầu thi hứng càng tuôn
Trinh bèn cầm bút viết luôn lên tường…
Chợt nghe huyên náo bên đường
Một tay kỵ mã dừng cương trước lều:
“Trinh Tùng phạm tội hai điều
“Thứ nhất vô lễ tự kiêu xé đề
“Bỏ thi, không chịu về quê
“Làm thơ uống rượu chửi thề quan nha
“Thứ hai con gái người ta
“Đang tâm vặn lá bẻ hoa tan tành
“Này đây chứng cớ rành rành
“Huyết đào đương sự đọng thành vệt to”
Nói rồi hét lính trói gô
Ngang lưng buộc lại, ngựa Hồ [26] kéo lê
Da tan thịt nát thảm ghê
Khắp thân cát bụi bốn bề máu loang
Tống Trinh vào ngục tạm giam
Hôm sau trình diện trước quan Tư Đồ
Trinh rằng: “Thuốc mật roi bồ [27]
“Dám xin khấu kiến Kim ô [28] một lần
“Ngọc Linh San tự hiến thân
“Thực tình không dám lần khân ép bày”
Quan rằng: “Mật lớn gan tầy
“Định lời cao ngạo dối rày cửa quan
“Lại còn lớn tiếng kêu oan
“Nhục hình không dụng chắc càng lẻo môi…”
Khoảng trong một khắc ba hồi
Cho Trinh nếm thử vài đôi ngón nghề
Cùi xiết trửu, móng kim kê
Chì sôi đổ miệng, mỡ dê luộc đùi [29]
Đớn đau biết mấy ngậm ngùi
Tỉnh mê ngàn bận, thác vùi trăm cơn…

*****

Mùa xuân gió nhẹ hoa thơm
Vụ mùa đương bội, gạo cơm trắng ngần
Đầy đường đám rước hội lân
Trẻ con tí tửng, gia nhân nô đùa
Nữ thanh trang điểm thêu thùa
Đo chùng yếm lụa, ướm vừa váy hoa
Nam thanh khăn áo lượt là
Cổ mang cà vạt, giày da bóng lộn
Cảnh quang thư thả tâm hồn
Vẳng nghe nhạc ngựa lỏng dồn nhịp cương
Trên yên toạ một cô nương
Mắt xanh biêng biếc, má hường hây hây
Mày thu liễu, tóc phong mây
Bờ môi mòng mọng, cổ tay tròn tròn
Chân dài, ức nở, bụng thon
Rõ là mới lớn, rõ con nhà lành
Rõ dòng thế phiệt trâm anh
Thiên kim tiểu nữ quan thanh Tư Đồ
Mẹ cha tên đặt Ngọc Hồ
Linh San là chị con cô con bà
Chiều nay dừng bước kiệu hoa
Công đường nàng ghé thăm cha vô tình
Gặp Trinh đang thọ nhục hình
Xót thương mới hỏi sự tình đầu đuôi:
“Trông chàng khí phách tuyệt vời
“Sao ô qui [30] nỡ, ngọc bôi [31] tan tành
“Hơi oan thấu tận trời xanh
“Xem ra hải án hà thanh [32] có nào!”
Trinh đang huyết lệ tuôn trào
Thấy giai nhân hỏi dựa vào mà rên
Người đâu xinh đẹp như tiên
Bao nhiêu đau đớn chốc liền nhẹ không
Đưa tay ve vuốt má hồng
Thưa rằng: “Đâu dám nhọc lòng tiểu thư
“Oan này cũng chỉ riêng tư
“Ngay gian biết mặt, thực hư rõ ràng
“Khấu đầu một việc nhờ nàng
“Tiểu sinh vốn chẳng quen mang gông xiềng…”
Ngọc Hồ ngẫm nghĩ triền miên
Đắn đo phải trái chung riêng một hồi
Phân vân hết đứng lại ngồi
Bên tình bên hiếu biết thôi bên nào
Lát rồi lệ ngọc tuôn trào
Liều mình nàng trộm khoá vào cứu Trinh
Đêm khuya ngục thất lạnh thinh
Trai tài gái sắc rùng mình xốn xang
Trinh rằng: “Đêm đã muộn màng
“Muốn xin kết bạn đồng sàng [33] được chăng?”
Nhẹ nhàng nắm lấy tay măng
Ghé môi thơm miệng, thơm răng, thơm hàm
Thơm tai, thơm cổ, thơm cam…
Tiệc đào Lưu Nguyễn [34] tham lam bốn lần
Ngọc Hồ mụ mị tâm thần
Ngó ra Trinh đã mặc quần từ lâu
Rằng: “Nàng tình nặng ân sâu
“Giao hoan chửa thoả lệ châu la đà
“Gối chăn đâu cũng là nhà
“Mây mưa chốc lát cũng là phu thê
“Chuyến này biền biệt sơn khê
“Xin đừng mong ngóng ngày về làm chi”
Nói rồi thơm nhẹ làn mi
Phủi quần xách áo ra đi vội vàng…

*****

Đêm về trên trấn Bình Khang
Đèn hoa rực rỡ, rộn ràng phách sên
Phấn hương thơm toả đôi bên
Này đây hẳn chốn Đào Nguyên [35] tiên bồng
Bao nhiêu con gái má hồng
Quần trong khoe lụa, áo trong khoe mầu
Môi xanh, môi đỏ, môi nâu [36]
Tóc đen, tóc trắng, tóc sâu… đủ người
Bao nhiêu giọng nói câu cười
Tha hồ cho khách làng chơi chọn vàng
Lẻ loi giữa đám cao sang
Có người thiếu nữ lơ làng bước chân
Hình dong đượm nét phong trần
Tóc tai dơ bẩn, áo quần rách bươm
Mặt mày tiều tuỵ thảm thương
Phong ba lộ nét, bụi đường vấy ngang
Dừng chân trước một nhà hàng
Đắn đo chốc lát rồi nàng bước lên
Nhẹ nhàng ngồi góc bàn bên
Khẽ truyền tửu nhị mang lên ba vò
Thái hai cân [37] rưỡi thịt bò
Nửa rán áp chảo, nửa kho xì dầu
Lai rai nhậu suốt đêm thâu
Vừa ăn vừa nhỏ lệ châu dầm dề
Canh tư gà giục bốn bề
Gục đầu nàng mới ngủ mê trên bàn
Sáng ra quán chủ hỏi han
Men say nàng vẫn miên man rượu nồng
Ngực căng, cổ ngấn, vai hồng
Xem ra gió nội hương đồng là đây
Tham lam quán chủ sắp bày
Thanh lâu nàng bị đưa ngay vào màn
Hỏi ra chính Ngọc Linh San
Cùng Trinh Tùng mới dâm gian ngày nào
Khi xưa cơn giận tuôn trào
Ra oai nàng lỡ vội vào báo quan
Nào ngờ da nát thịt tan
Tình nhân thọ nạn hàm oan thấu trời
Khi xưa định doạ mà thôi
Nào ngờ máu chảy lệ rơi hãi hùng
Linh San ân hận vô cùng
Khi không đập miếng đỉnh chung [38] tan tành
Máu đào dẫu chảy cũng đành
Màng hoa rách nát còn lành được chăng!
Tơ hồng Nguyệt lão khéo dăng
Yêu nhau mỗi ngả mỗi đằng bơ vơ
Lệ tương tư nhỏ hững hờ
Vì tình lạc bước giang hồ tìm Trinh
Khoá son nàng khép cửa mình
Bơ vơ lều quán, mặc tình phấn hương
Buồn thay môi đỏ má hường
Đớn đau phận liễu gặp phường lưu manh
Đêm qua lạc chốn lầu xanh
Tiền ăn không đủ, nàng đành bán thân
Khách đầu họ Mặc tên Cân
Quê vùng Hà Bắc, vốn dân đào vàng
Nàng rằng: “Số kiếp phụ phàng
“Tấm thân đành để khách làng chơi hoa
“Thiếp không dám lấy tiền boa
“Chỉ mong quân tử mát xoa [39] nhẹ nhàng”
Khách rằng: “Khi tối chọn hàng
“Bao người ta chỉ thấy nàng là ưng
“Giờ đây người lạ tình dưng
“Trải vài ba cuộc tưng bừng ái ân
“Chốc mà khăng khít tình thân”
Nói xong khách tự cởi quần thoát y
Đứng lên múa khúc Điêu Ly [40]
Dáng quay nhịp bước tinh vi vô cùng
Linh San thoạt cũng hãi hùng
Sau cao hứng - đứng dậy cùng múa đôi
Mặc cho nước chảy bèo trôi
Thân trần lấm bụi tắm rồi lại trong
Khi dìu dặt, lúc thong dong
Khi ngoáy mông hạc, lúc cong lưng ngà
Giương vòi ong hút nhuỵ hoa
Cả đêm mật ngọt trào ra ba lần

*****

Trinh Tùng từ bữa thoát thân
Giang hồ lưu lạc bước chân điêu tàn
Bao ngày cỏ đệm sương màn
Bao ngày không được truy hoan lần nào
Bao ngày đói khát cồn cào
Tủi thân ngẫm nghĩ lệ trào bờ mi
Đường dài lầm lũi chân đi
Một chiều lạc bước dừng chi bên đàng
Non tây chợt thấy cửa hang
Bên trong thấp thoáng một nàng áo xanh
Trinh mừng, hỏi chuyện loanh quanh
Ngâm thơ gạ gẫm yến oanh giải sầu
Rằng: “Đời bãi bể nương dâu
“Bất công giả dối biết đâu mà lường
“Chỉ còn chăn gối yêu thương
“Xin nàng qua hết đêm trường cùng ta”
Nàng cười: “Rõ thật đào hoa
“Đang tâm ân ái bà già này chăng
“Sức trai dù khoẻ dù hăng
“So ra kinh nghiệm chẳng bằng ta đâu”
Nói xong e lệ ngẩng đầu
Trời ơi, nhăn nhúm tóc câu da mồi!
Trinh run rẩy bước giật lùi
Trượt chân ngã ngửa dưới đùi lão nhân
Kêu rằng: “Cao thấp chưa phân
“Nhưng xem tuổi tác có phần so le
“Dẫu là giao bái [41] phu thê
“Vẫn cần hợp tuổi, hợp quê, hợp tình
“Tiểu nhân vốn kẻ hậu sinh
“Dám xin tiền bối rộng tình xót thương”
Cười rằng: “Anh rõ vô lương
“Hỏi xem ai gạ lên giường trước ai
“Đã yêu đừng kể gái trai
“Đừng so tuổi tác, đừng nài non tơ”
Trinh nghe chợt tỉnh cơn mơ
Dục tình đạo lý bấy giờ mới thông
Hai người ân ái thong dong
Tình dù đầu bạc răng long vẫn tình…
Bâng khuâng cơn mộng ba sinh
Sáng ra Trinh bỗng giật mình nhìn quanh
Tênh hênh giữa bãi cỏ xanh
Nào đâu động ngọc, lão tình nào đâu
Một dòng suối chảy khe cầu
Một làn sương tựa khói sầu nhẹ vương
Cảnh như ly khúc Tiêu Tương [42]
Tình như chinh phụ đêm trường ngóng ai…
Chợt nghe cộm dưới quần dài
Móc ra pho sách cùng hai túi vàng
Một tờ thư gấp gọn gàng
Nét thần tiên thảo mấy hàng buông lơi
Viết rằng: “Chót lưỡi đầu môi
“Yêu như nước chảy sông trôi mới là
“Dục tình tràn khắp thiên hà
“Âm dương tụ lại, tuyết hoa dồn vào
“Yêu nhau trinh bạch thanh cao
“Yêu nhau như thể khát khao sinh tồn
“Yêu nhau bằng cả tâm hồn
“Yêu nhau bằng mắt, bằng lưng, bằng tay
“Yêu cho mặn ngọt chua cay
“Yêu cho sóng cuộn, trời đầy bão giông
“Yêu dài xuân hạ thu đông
“Người hơn cầm thú, yêu không có mùa [43]
“Yêu nhau lăn lóc mây mưa
“Yêu nhau, to mấy cũng vừa cũng xinh…
“Khá khen trẻ đã có kinh
“nghiệm yêu đương với làm tình giỏi ghê
“Đêm qua tỏ mấy ngón nghề
“Quả là sức đỉa máu dê hơn người
“Bạc vàng, bí kíp tặng rồi
“Công danh sự nghiệp một buổi mà nên”
Trinh mừng, lạy địa vái thiên
Rằng xin ráng sức cơ duyên đạo tình
Sách kia nhìn lại nguyên hình
Tiêu đề ghi rõ: “Dục tình cẩm nang”
Càng xem càng thấy xốn xang
Càng xem càng hiểu, đạo càng tinh thông
Bẩy mươi hai thế phượng rồng
Suy tư từng chữ thuộc lòng từng chương
Đoạn bày bôi phấn thoa hương
Đoạn bàn thảo dược cường dương bổ tỳ
Đoạn lưu ý cách đứng đi
Cách xoa, cách vuốt, cách di, cách sờ
Cách đàn hát, cách ngâm thơ
Cách làm nũng nịu, cách vờ vấn vương
Hiểu thêm bao cách phấn hương
Biết thêm bao kiểu âm dương giao hoà
Ngày ngày ngẫm nghĩ gần xa
Đêm đêm rèn luyện tay hoa cho rành
Ba năm thấm thoắt trôi nhanh
Dục công cái thế chàng đành hạ sơn
Từ khi chép vượt Vũ môn [44]
Tiếng lành truyền rộng, tin đồn lan xa

*****

Xuân về đào lại nở hoa
Con gái môi thắm nước da mịn màng
Tình yêu căng nhựa tuôn tràn
Hồn si run rẩy cung đàn chơi vơi
Chiều xuân mưa bụi rơi rơi
Ngọc Hồ bất chợt thấy đời buồn tênh
Từ ngày thất tiết cứu Trinh
Giao hoan chưa thoả nhân tình đã xa
Nhớ người lệ nhỏ, châu sa.
Vì tình mắc tội, mẹ cha mắng rày
Ngẫm đời toàn những đắng cay
Liều thân cũng định ra tay đôi lần
Ngặt vì còn đủ song thân
Ngặt vì chữ hiếu ngàn cân chưa tròn
Ngặt vì tuổi hãy còn son
Lòng còn hừng hực, tình còn muốn yêu
Những khi gió sớm mưa chiều
Một lần thoả ước nguyện nhiều lần thêm
Những khi chăn ấm đệm êm
Nõn nà trằn trọc canh đêm trải dài
Những khi xem ảnh nghe đài
Khoả thân nàng lại vật nài nhớ Trinh
Đời vui sướng nhất chữ tình
Buồn đau nhất cũng chỉ mình chữ yêu
Một hôm thả gót phiêu diêu
Trên bờ đê ngắm cánh diều chơi vơi
Ngọc Hồ bỗng thấy một người
Mắt đưa lúng liếng, miệng cười làm thân
Tự xưng họ Mặc tên Cân
Muốn cùng giao hợp một lần cho quen
Rằng: “Đừng câu nệ nhỏ nhen
“Xin nàng mở khoá rút then cho rồi
“Chân đê chiều tối không người
“Cỏ xanh làm gối gió trời làm chăn
“Chung Lăng chén tiễn [45] mấy lần
“Gối chăn phút chốc thành thân vô cùng”
Ngọc Hồ nổi giận đùng đùng
Định dang tay tát vỡ tung mặt dầy
Nào ngờ khách quá nhanh tay
Luồn mình cúi xuống tóm ngay tuyết đào
Một tay khách giữ đôi phao
Tay kia luồn dưới yếm đào thoả thuê
Nàng như hoa đẹp chân quê
Gặp phường ong bướm đê mê rụng rời
Nhìn Cân ngọc diện sáng ngời
Thôi đành lòng thử buông lơi cầm chừng
Hơi thở gấp, mặt đỏ bừng
Mắt huyền nhắm chặt lệ rưng đôi hàng
Môi hơi hé mở dịu dàng
Rung rung bồng đảo mang mang hạ đài
Cân chưa kịp cởi quần dài
Chợt nghe tiếng quát bên tai ầm ầm:
“Khéo sao chọn chỗ gian dâm
“Ngang nhiên trai gái trao thân giữa đường!”
Ngọc Hồ tái xám má hường
Chuyện đà lộ tẩy còn chường mặt ai
Vết nhơ trước một nay hai
Liều thân thác xuống Tuyền Đài [46] cho xong
Nghĩ rồi nhảy vọt xuống sông
Nước đen [47] lờ lững một dòng buồn tênh
Cân còn nằm ngửa tênh hênh
Đã nghe tiếng sóng dập dềnh xa xa
Xót thương lệ tự chảy ra
Mối ân tình ấy thôi đà kiếp sau
Quan Tư Đồ quá đớn đau
Chưa lời sinh biệt đã câu tử lìa
Vừa thương con gái tái tê
Vừa sai lùng bắt Cân về tống giam…
Trên đời lắm chuyện trái ngang
Ngọc Hồ trôi đến Bình Khang thì dừng
Một bà lão sống ven rừng
Thấy nàng còn sống vui mừng khôn nguôi
Thân già một bóng đơn côi
Từ nay có đứa con nuôi, đỡ buồn.

*****

Trường giang sóng vỗ dập dồn
Dân chài tay kéo lưới dồn cá xa
Chợ chiều họp bến Hoàng Hoa [48]
Bán mua tấp nập kẻ ra người vào
Một thanh niên rõ to cao
Thịt săn cuộn chắc, lông mao rậm dày
Phùng môi, trợn mắt, dang tay
ầm ầm thét lác giữa ngay chợ chiều
Một nàng con gái mỹ miều
Yếm đào xộc xệch váy điều so le
Khuôn mai đầy vẻ tái tê
Thân ngà run rẩy, mặt nghê bơ phờ
Trinh đang dạo bước thẩn thơ
Giữa đường gặp chuyện ngẩn ngơ bật cười
Rằng: “Trông cơ bắp tuyệt vời
Mà sao bụng dạ hẹp hòi tiểu nhân”
Thanh niên tức giận vô ngần
Sẵn đao giắt ở cặp quần, rút ra
Trinh cười: “Sống chết chẳng qua
“Sống là mộng ảo, chết là gió bay
“Đời người ngắn một gang tay
“Sống sao cho khỏi dứt day tâm hồn
“Việc gì cả giận mất khôn
“Nam nhi ai lại đánh lộn nữ nhi…”
Thanh niên biến sắc tức thì
Vội co đôi cật [49], vội quì đôi chân
Dập đầu: “Khẩu khí cao nhân
“Đem so giọng lưỡi phàm trần khác xa
“Đệ con nhà đại phú gia
“Tuổi là hăm bốn, hiệu là Thẩm Du
“Say sưa phim ảnh dâm thư
“Thanh lâu, kỹ viện thân như người nhà
“Trời sinh vốn khiếu giăng hoa
“Lại cho của ấy gấp ba người thường
“Đêm ngày thưởng nguyệt đùa sương
“ăn chơi có tiếng nhất phường Đồng Xuân
“Bữa nay tương kiến cao nhân
“Mới hay danh tiếng xa gần gió mây
“Đệ xin bái lạy làm thầy
“Xin theo học đạo, tối ngày có nhau”
Trinh rằng: “Dầu trước dầu sau
“Cũng từ mang nặng đẻ đau mà thành
“Cũng rồi một nắm cỏ xanh
“Đệ đừng câu nệ chức danh làm gì”
Du rằng: “Dạ đã tạc ghi
“Bấy lâu hư hỏng cũng vì vô duyên
“Tơ thừa xin chút chân truyền
“Gối chăn sành điệu, thần tiên khác nào”
Trinh rằng: “Dục học thâm cao,
“Cho ra tình nặng, nhận vào ân sâu
“Kim đâm vào thịt thì đau
“Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời
“Anh hùng dũng mãnh tuyệt vời
“Cũng là nhỏ bé trong môi nhân tình
“Thiên tài trác tuyệt thông minh
“Cũng là ngờ nghệch bên mình mỹ nhân…”
Thầy trò ý hợp tình thân
Say sưa đàm đạo đến gần nửa đêm

*****

Heo may nhuộm lá vàng thêm
Lìa cành gió thổi xuống thềm thanh lâu
Bình Khang quen lối vó câu
Dập dìu công tử giải sầu ca nhi
Bao năm chôn gói xuân thì
Một đêm biết mấy người đi kẻ về
Ngỡ ngàng gió nội hương quê
Tao nhân đâu dám ngẫm về tà dâm
Chị em kỹ nữ đồng tâm
Ngón nghề thi hoạ sắt cầm đều hay
Chiều thu gió mát hây hây
Linh San tiếp khách gốc cây Đinh hoàng
Khách rằng: “Trước lúc đồng sàng
“Xin cho nghe một bản đàn Nam Quân [50]”
Linh San chậm rãi khoả thân
Ôm đàn gẩy khúc Vũ Tần Phong Hoa [51]
Tiếng vui rạo rực gần xa
Tiếng buồn li biệt Bá Nha, Tử Kỳ [52]
Tiếng nghẹn ngào buổi phân ly
Tiếng hoan lạc phút vu qui kéo dài
Tiếng cao réo rắt tai ngoài
Tiếng trầm u uẩn ngân dài tai trong
Ngực căng ép hộp đàn cong
Nhũ hoa nén lại núm hồng rung rung
Tay măng khéo léo lạ lùng
Ngón dài khoan nhặt từng cung phím hờ
Khách nghe lòng những ngẩn ngơ
Ngẫm rằng: “Bốn khúc bao giờ gẩy xong?”
Tình càng chờ đợi càng mong
Càng khêu gợi những đường cong mỹ miều
Mặc lòng, nhạc vẫn phiêu diêu
Mà trăng dần sáng, bóng chiều dần tan
Tay thon vẫn mải mê đàn
Nàng như quên cuộc truy hoan sắp rồi
Khách bèn vừa đứng vừa ngồi
Vừa nghe, vừa ngắm, vừa cười, vừa rên
Bao nhiêu đau đớn ưu phiền
Theo dòng nhạc khúc chảy liền ra sân
Trên làn da mịn trắng ngần
Có hơi lưu thuỷ phù vân đôi dòng…
Canh ba nàng gẩy đàn xong
Vườn khuya bóng lẻ tiếng thông rì rào
Tìm quanh khách thấy đâu nào
Tiền boa đã kẹp sẵn vào sách thơ

*****

Một ngày quán chủ bước vô
Rằng: “Đây tân nữ Ngọc Hồ mới qua
“Nhờ chị em giúp gần xa
“Ngón nghề truyền hết mới là tri âm…”
Một nàng áo vải quần thâm
Sắc xuân mơn mởn ngang tầm Linh San
Mắt nai hoen lệ chứa chan
Hình dong thây lẩy, dung nhan bơ phờ
Linh San nhác thấy Ngọc Hồ
Chị em run rẩy ôm vồ lấy nhau
Nửa mừng rỡ, nửa tủi đau
Trớ trêu Hợp Phố tụ châu [53] chốn này
Ngọc Hồ rơi lệ giãi bày
Căn nguyên câu chuyện từ ngày cứu Trinh:
“Liều thân tự tử một mình
“Rồi bà lão vớt nên tình mẹ con
“Thương yêu bền nghĩa keo sơn
“Ruột già thân thiết còn hơn người nhà
“Bốn mùa thấm thoắt trôi qua
“Lên cơn hen cấp lão bà ra đi
“Vay tiền trả nghĩa tử ly
“Lo tròn đạo hiếu nàng đi bán mình…”
Linh San thổn thức tâm tình
Chọn lời an ủi linh tinh một hồi
Rằng: “Em tới chốn đây rồi
“Bẽ bàng cứ gạt lệ cười là xong”
Thời gian cách mặt xa lòng
Ngọc Hồ quen chuyện bướm ong đi về
Dục tình nàng vốn đam mê
Dẫu là tủi hận chẳng hề oán than
Khách chơi thù tiếp nhẹ nhàng
Nghề chơi tỏ được muôn vàn lối hay
Cuộc chơi giữ trọn đắm say
Khách về lưu luyến vơi đầy phòng loan
Sông dài trôi nổi thuyền lan
Buồn vui gửi lại tiếng đàn câu thơ

*****

Từ khi trốn lệnh Tư Đồ
Mặc Cân chìm nổi giang hồ lênh đênh
Chông gai dặm bước gập ghềnh
Nhiều hôm trăn trở buồn tênh khóc thầm
Thân trai cường tráng đa dâm
Mộng tình bí bách sầu câm nghẹn lời
Tay trơn bụng đói rã rời
Đói tình còn khổ bằng mười đói ăn
Một đêm đương lúc sáng trăng
ánh vàng nhuộm cỏ sương giăng mịt mùng
Cân đang não dạ não lòng
Sầu thơ muốn phát từ trong ra ngoài
Lều tranh cửa đóng then cài
Đột nhiên thơm nức hương nhài lâng lâng
Một nàng thiếu nữ khoả thân
Nõn nà như ngọc trắng ngần như hoa
Mịn màng tươi mát thịt da
Đùi thon mỹ lệ nhũ hoa điểm hồng
Chỉ hiềm thấp thoáng sau mông
Hình như có một chùm lông rất dài
Quả nhiên đuôi mọc ra ngoài
Thoạt trông đã biết là loài hiếu dâm
Mặc Cân chưa kịp định tâm
Đã nghe hồ nữ thì thầm bên tai
“Đêm nay một gái một trai
“Xin chàng hãy thử ra oai xem nào”
Cân nghe xúc động dạt dào
Hồ ly thì có khác nào gái tơ
Ngẫm rồi hắng giọng đọc thơ
Vừa tuôn ý ngọc, vừa sờ thoả thuê
Hồ ly thích chí đê mê
Miệng cười lơi lả, thạch kê [54] ngoáy tròn
Điêu Ly vũ điệu mê hồn
Cân cùng hồ nữ lưng dồn tay đưa
Sải chân theo nhịp mây mưa
Vừa xoay vừa cởi áo thừa quần trong
Ngoài vườn mưa nhỏ long tong
Trong nhà tình thuỷ đôi dòng chảy ngang…
Canh tư gà bỗng gáy vang
Hồ ly thỏ thẻ oanh vàng bên tai:
“Tuy rằng vừa lớn vừa dài
“Vừa to cơ bắp, vừa tài Điêu Ly
“Nhưng xem ra chốn Bạch mi
“Một mình thoả nguyện còn gì gối chăn
“Chàng nên học đạo vài năm
“Bữa mai là đúng ngày rằm tháng ba
“Đợi khi nắng khuất bóng tà
“Trinh Tùng chàng nhớ chạy ra nhận thầy…”
Dứt lời nàng vội biến ngay
Lông đuôi vừa rụng bám đầy chăn hoa

*****

Trinh Tùng nhân tiết tháng Ba
Cùng Thẩm Du dạo bước qua ngõ Đào
Xảy đâu thấy một anh hào
Mặt mày tuấn tú chân cao lưng dài
Thấy Trinh bước đến vái dài
Rồi rung đùi nhẩy múa bài Điêu Ly
Miệng cao giọng khúc Xuân Qui [55]
Tiếng ca xuất quỉ, dáng đi nhập thần
Trinh Tùng không chút ngại ngần
Quần đùi áo lót dần dần cởi ra
Nhún chân theo nhịp năm ba
Quay cuồng vũ điệu Tố Nga đồng sàng
Chàng kia đứng lặng bàng hoàng
Thẹn thùng nước mắt đôi hàng long lanh
Rằng: “Bấy lâu chỉ nghe danh
“Đâu ngờ tài lực tinh anh vô ngần
“Tiểu nhân họ Mặc tên Cân
“Lòng thành năm tấc xin dâng theo hầu
“Dặm trường tiếp nối vó câu
“Quyết không quản ngại rừng sâu núi dài”
Trinh cười: “Đệ nói chẳng sai
“Mỗi người chỉ thạo một vài tuyệt chiêu
“Sức mòn tài lẻ phiêu diêu
“Một thân lập nghiệp xem chiều hơi khoai
“Sao bằng sát cánh kề vai
“Thầy trò dồn sức chí trai tung hoành
“Hữu duyên tương ngộ đã đành
“Vô duyên thiên lý cũng thành tri âm”
Thẩm Du nắm chặt tay Cân
Rằng: “Gặp nhau mới một lần đã yêu
“Đồng môn, đồng giới, đồng liêu
“Từ đây huynh đệ sắt tiêu [56] đồng lòng”
Mặc Cân xúc động vô cùng
Đầm đìa nước mắt đôi dòng chảy xuôi
Thề rằng: “Ghi nhớ khôn nguôi
“Thân này xin gắng một buổi báo ân”
Từ khi có được Mặc Cân
Trinh Tùng như hổ thêm chân thêm đầu
Như rồng thêm cánh thêm râu
Oai phong giữa chốn thanh lâu nhà hàng
Sáng ôn lý thuyết đàng hoàng
Chiều chiều lại tới Bình Khang thực hành.

*****

Một lần gió mát trăng thanh
Thầy trò ba kẻ xuất hành chơi đêm
Tiếng ve rên rỉ buồn thêm
Sương sa đọng những hạt mềm trong veo
Người đi bóng đổ trăng theo
Cây buồn xao lá suối reo rì rào
Hoa đêm hương toả ngạt ngào
Ngỡ như hương phấn má đào tiên nga
Bỗng nghe tiếng hát từ xa
Nửa như tiếng thở, nửa là tiếng rên
Từng cơn ai oán ưu phiền
Ai nghe cũng phải bật lên khóc thầm
Thầy trò kinh ngạc dừng chân:
Dưới trăng trắng nõn khoả thân hai nàng
Cân, Du định tới liên sàng
Trinh cười ngăn lại: “Vội vàng mà chi
“Rõ là uẩn khúc điều gì
“Xem ra oan khuất xuân thì cả đôi”
Nói rồi hắng giọng liếm môi
“Hai nàng cho hỏi đôi lời được chăng?”
Giật mình ôm kín ngực măng
Hai nàng kinh hãi bàng hoàng ngoái trông
Thẹn thùng khép nép đôi mông
Đột nhiên chết lặng. Thật không ai ngờ!
Ba thầy trò cũng sững sờ…
Dưới trăng tỉ muội Ngọc Hồ, Linh San!
Trinh Tùng lệ nhỏ chứa chan
Lại gần ghì xiết hai nàng vào tay
Nụ hôn kèm cả đắng cay
Cả thương xót lẫn vơi đầy nhớ nhung
Phút đoàn viên thật lạ lùng
Hai nàng cảm động rưng rưng nghẹn ngào
Nước đâu từng đợt tuôn trào
Hương tình ngát toả dạt dào từng cơn
Trinh rằng: “Ta vẫn nghe đồn
“Hai nàng bày bán thịt lợn đâu đây
“Nhớ tình chăn gối mưa mây
“Vào Bình Khang hỏi mấy ngày chẳng ra
“Tưởng rằng bướm đã bay xa
“Trách mình phận bạc, ngẫm mà vô duyên
“Nay Lưu Nguyễn lại gặp tiên
“Thật là thoả những ước nguyền bấy lâu”
Hai nàng thổn thức lệ châu
Nhắc từng chuyện cũ buồn đau thế nào:
“Kiếp hồng nhan, phận má đào
“Lỡ chân cùng lạc bước vào Bình Khang
“Ngỡ đường hoan lộ thênh thang
“Đâu hay sỏi ngọc, thau vàng mông lung
“Phường khinh bạc lắm như sung
“Chính nhân quân tử muốn lùng chẳng ra
“Bàn đi tính lại đêm qua
“Chị em quyết bỏ trốn xa vũng lầy
“Thoát rồi thoả chí gió mây
“Xé tan y phục mừng ngày thái lai
“Ông trời có mắt chẳng sai
“Nay duyên kỳ ngộ, đây bài hoàn lương
“Từ rày đắm đuối yêu thương
“Thuỷ chung dù có phong sương dãi dầu”
Mặc Cân bước tới cúi đầu
Cố nhân tình cũ nhận nhau một hồi
Rằng: “truân chuyên đã qua rồi
“Từ nay loan phượng kề môi ấp lòng
“Từ nay chắp mối tơ hồng
“Nối tình dang dở bến sông hôm nào…”
Thẩm Du e thẹn định chào
Nhưng vì thương cảm nghẹn ngào lệ rơi
Hồi lâu không thốt nên lời
Miệng hoa nở một nụ cười ngô nghê
Tay cầm vạt áo vân vê
Lát rồi cất giọng tái tê ôn tồn
“Vẫn nghe danh nổi như cồn
“Bữa nay mới được thấy mặt giai nhân
“Quả là quyến rũ vô ngần
“Mịn hơn hoa hậu, tiểu nhân xin thề…”
Lời yêu trao đổi chán chê
Lệ thương nhỏ ướt dầm dề cỏ xanh
Trinh rằng: “Tình cũ chân thành
“Hãy cùng ca khúc đồng thanh liên sàng”
Năm người phấn khởi hân hoan
Yêu nhau dưới ánh trăng vàng lung linh
Năm thân chung một thể hình
Năm hồn hoà một khối tình bao la
Tay chân lẫn lộn thịt da
Này là lá thắm, này là cỏ non
Này là ngõ hẻm cuối thôn
Này là đại thụ dập dồn phong ba
Này là nhũ ngọc tuyết hoa
Này là suối ngọt chảy ra từng dòng…
Cuộc yêu kéo đến rạng đông
Yến oanh rũ cánh tỉa lông một hồi
Tình còn vương vấn đầu môi
Dục còn khắc khoải đầy vơi trong lòng
Năm người xuống tắm suối trong
Rồi lên nằm giữa cánh đồng nghỉ ngơi
Trên cây chim hót vang trời
Cỏ hoa rực nắng, mây trôi lững lờ
Mấy nhành liễu rủ lơ thơ
Bướm vàng xao lượn như mơ, dập dồn…

Friday, January 5, 2018

ẤM TRÀ - Nghề chơi cũng lắm công phu
Tác giả: Nguyễn Duy Chính


Một nhà nho Việt Nam cuối thế kỷ XIX ở Hà Nội 
Deke Dusinberre. The Book of Tea. (Paris: Flammarion, không rõ năm), tr. 71

LỜI NÓI ĐẦU

Hình 1: Gánh trà rong ở Quảng Đông

Hầu như đã uống trà thì ai cũng có cách uống riêng của mình, không thể nói ai sành hơn ai. Đối với người Á Đông  trà là một sinh hoạt rất phổ thông, vào tiệm ăn thường gia đình nào cũng gọi thêm một ấm trà nóng để làm đồ uống phụ vào bữa chính.

Lịch sử còn khá nhiều hình ảnh liên quan đến uống trà, từ một gánh trà rong bán cho phu kéo xe ở Quảng Đông hồi cuối thế kỷ XIX đến những trà quán tương đối sang trọng hơn ở San Francisco. Ngay từ nhiều thế kỷ trước đã có những hình vẽ về sinh hoạt chẳng hạn như Đấu Trà [thi uống trà] đời Nguyên. Thế nhưng phong cách uống trà của người Trung Hoa khác người Việt, phần vì họ luôn luôn có vẻ màu mè, phần khác vì cố tình nâng lên thành một nghệ thuật và ngày nay mỗi cộng đồng người Hoa lại tự tạo một cách thức riêng nên lại càng phức tạp.

Người Việt uống trà  thường là để giải khát hơn là thưởng thức và thói quen này cũng chính là một cách phòng ngừa bệnh tật. Nước nấu sôi là một cách khử trùng hữu hiệu mặc dù ngày xưa chưa có kiến thức về mầm bệnh ẩn trong nước lã chưa đun. Một cụ đồ ngồi trên sập tay cầm xe điếu bên cạnh bộ đồ trà và hộp đựng trầu [chụp vào khoảng 1870 ở Hà Nội] quả là một hình ảnh rất Việt Nam nhưng rõ ràng con người là trọng điểm còn những thứ khác chỉ là phụ.

Theo lịch sử, đồ sứ của nước ta đã được xuất cảng sang nước khác từ thời Trung Cổ trong đó có cả một số đồ dùng để uống trà. Đã có thời đồ sứ Việt Nam là sản phẩm người Nhật ưa chuộng vì lối chế tạo giản phác phù hợp với sở hiếu của họ(1). Thế nhưng trà cụ Việt Nam nằm trong khung cảnh chung là đồ sứ vì đồ trà nước ta không dùng một loại đất riêng và cũng không có một phương thức chế tạo khác biệt như người Trung Hoa. Chính vì nét độc đáo này, hiện nay cứ nói tới tử sa [zisha], Nghi Hưng [Yixing] ... thì ai cũng biết đó là ấm đất nung Trung Quốc.

Vài chục năm trở lại đây, từ khi chính quyền Hoa Lục mở cửa thông thương với bên ngoài, sản xuất và tiêu thụ ấm trà bộc phát mãnh liệt. Việc sử dụng, sưu tầm ấm tử sa đã thành một trào lưu và sách vở viết về trà và ấm trà khá phong phú [thường từ Hoa Lục hay Đài Loan], phổ biến trong giới người Hoa và cả một số người Việt.

Một cách tổng quát, có hai hạng người sưu tầm ấm. Một hạng thuộc về sưu tập đồ cổ, coi trọng niên đại và người nặn ấm. Chọn ấm loại này không phải vì công dụng của chiếc ấm mà vì giá trị của món hàng với con dấu là bằng chứng của tác giả. Hạng người thứ hai là người sưu tập như người ta chơi tem, chơi sách, chơi cây cảnh, càng nhiều càng tốt, thích mắt thì mua. Tuy nhiên, mỗi hạng người lại có nhiều trình độ, có người sưu tập theo kiểu, theo cỡ, theo loại, cũng có người sưu tập theo tên tác giả giống như người sưu tầm tranh. Những cơn sốt ấm trà tạo nên những nhu cầu giả tạo và không hiếm người nặn ra những chiếc ấm lạ lùng, giống như một tác phẩm điêu khắc hơn là một dụng cụ dùng hàng ngày(2). Tuy nhiên theo những chuyên gia thì ấm dùng để pha trà nên có đủ những tiêu chuẩn để tạo được một ấm trà ngon mới đáng kể.


TRÀ CỤ

Đối với chúng ta, uống trà chỉ cần những món tối thiểu: ấm đun nước, ấm pha trà và chén để uống. Thêm một chút là ấm chuyên hay chén tống, dụng cụ để rót trà vào rồi san ra chén nhỏ cho đều nhau, không ai đậm, ai nhạt. Thế nhưng theo thời đại, việc uống trà nay phức tạp hơn nhiều, không phải chỉ ấm mà còn nhiều thứ lỉnh kỉnh khác.
Theo sách vở, một bộ đồ trà đầy đủ bao gồm những món sau đây:
-  Ấm pha trà [trà hồ - 茶壺]
-  Hũ đựng trà
-  Bồn chứa nước thừa
-  Đĩa lót ấm [trà thuyền - 茶船] để đặt ấm và hứng nước tràn ra khi pha trà
-  Ấm chuyên [trà chung - 茶盅] còn gọi là trà hải hay đại công bôi
-  Đĩa để nắp [khi nhắc ra để rót nước sôi vào ấm thì để nắp ấm vào đó]
-  Khay trà [phụng trà bàn - 奉茶盤]
-  Chén [bôi - 杯] và đĩa [thác - 托]
-  Muỗng xúc trà
-  Cóng đong trà [trà hà - 茶荷]
-  Đũa moi bã trà và đũa thông vòi ấm
-  Khăn lau
Những người chơi ấm lại có cả một số bút lông, bàn chải ... là những khí cụ mà người ta gọi là “dưỡng hồ” [nuôi ấm] để đánh bóng chiếc ấm đang dùng cho thêm phần cổ kính. Thành thử, một bộ đồ trà kể cũng nhiêu khê nhất là món nào cũng có nhiều hạng, giá cả cũng vô chừng. Một bộ đồ hoàn chỉnh khoảng vài trăm dollars. Nếu mọi thứ đều kén chọn, giá cả có thể lên đến bạc ngàn.

CÁCH CHỌN ẤM 

Mua ấm chủ yếu là để pha trà. Ngày xưa, khi người khôn của khó thì có một cái ấm dùng mãn đời, chết đi để lại cho con cháu như đồ gia bảo. Ấm đất đem sang nước ta thường là loại nhỏ, đơn giản do một số thương nhân người Hoa chở thuyền sang bán. Ngày nay, khi đi vào nghệ thuật chơi ấm, những tiêu chuẩn cũ ít ai dùng mà phải theo sách vở nghĩa là có lý thuyết hẳn hoi. Cứ theo các nhà chuyên môn nhiều kinh nghiệm, khi chọn ấm người mua cần biết một số kiến thức để khỏi lầm.

Nguyên liệu

Tự cổ chí kim, ấm trà được chế tạo bằng nhiều loại, từ kim khí như vàng, bạc, đồng, thiếc, sắt, thuỷ tinh, đá, sứ ... trong đó đất nung là vật liệu được coi là có nhiều ưu điểm hơn những loại khác. Một trong những truyền kỳ là ấm đất càng dùng lâu càng quí và vì thế đồ cũ đắt hơn đồ mới.

Ấm đất nung thường gọi là ấm tử sa (紫砂) [tử là màu tím nâu]. Tử sa là một loại đá được nghiền nát, sàng lọc, chế biến qua nhiều giai đoạn khác nhau trước khi đến tay người thợ. Loại đá này phân chất ra bao gồm những nguyên tố chính như thạch anh, đất sét, vân mẫu và quặng sắt(3). Các chuyên gia đều cho rằng một trong những cái thú của người uống trà là việc dùng vải hay bàn chải đánh bóng chiếc ấm cũ, càng lúc càng lên nước như có phủ một lớp si. Do đó, việc chọn chất liệu làm ấm được coi là ưu tiên hàng đầu của người sành sỏi vì loại ấm không tốt dùng lâu tuy cũ đi nhưng màu xỉn không bóng bẩy.

Nói chung ấm cũ Nghi Hưng thứ thiệt hạt tương đối lớn, nặng tay và kỹ thuật thời đó còn chưa tinh vi tới mức “thưởng ngoạn” nên ít khi có ấm thật đẹp. Dù sao chăng nữa, thời đại và giá trị kinh tế là những yếu tố quyết định, không thể không quan tâm. Những ấm mới ngày nay, mỹ thuật hơn, đất mịn hơn, tinh xảo hơn, nhiều đẳng loại hơn nên thường phải nhiều lần sàng lọc trước khi chúng ta có được một bộ sưu tập ưng ý. Hiếm có ai sành sỏi ngay từ những ngày đầu và kinh nghiệm nào cũng có cái giá riêng của nó.

Tử sa [紫砂]

Màu tử sa có nhiều cấp độ, từ đỏ thẫm chuyển sang màu nâu đến màu đen, tuy không đen nhánh như sừng nhưng nhìn kỹ có màu tím than và nếu chẳng may bị vỡ sẽ thấy cạnh sắc như đá. Tử sa là màu thông dụng nhất, dễ kiếm hơn cả nên sách vở thường đồng hoá ấm tử sa [zisha] với Nghi Hưng [yixing].
Hình 2: Ấm tử sa

Đoạn nê [緞泥]

Đoạn nê là đất màu vàng, thường có lẫn những tạp chất li ti màu đen. Hiện nay, nhiều ấm màu vàng nhưng không phải là đoạn nê vì tinh khiết quá, màu tươi quá. Đoạn nê thật thường không thuần sắc và cũng không mịn mặt một cách giả tạo. Ấm đoạn nê thường  nhỏ, ít khi kiếm được loại to.
Hình 3: Ấm đoạn nê

Chu nê [硃泥]

Chu nê theo nghĩa đen là đất màu đỏ mặc dù có người phân biệt ra một loại đất đỏ, màu tươi, độ dính cao mà người thợ khéo có thể nặn mỏng như vỏ trứng [egg-shell].

Ấm chu nê có đặc tính dùng lâu sẽ thẫm lại như một trái bồ quân chín. Nhiều người chuộng ấm chu nê vì dùng một thời gian thì thẫm dần, mỗi khi rót nước nóng vào lại đỏ au lên sinh động chẳng khác gì một con cá lia thia thấy bóng mình trong nước.

Có điều đất chu nê đã khai thác hết từ mấy chục năm nay, phần lớn ấm nói là chu nê không phải là đồ thật, ngoại trừ một số danh thủ còn giữ được một số ít để làm những ấm khá đắt tiền.

Ngoài ba loại màu chính trên đây, một số màu khác tương đối hiếm hơn, do thiên nhiên cũng có mà do pha chế cũng có, màu trắng, màu xanh dương, màu lục ... với nhiều cấp độ cũng được dùng trong kỹ nghệ làm ấm nhưng không được ưa chuộng bằng.
Hình 4: Ấm chu nê


Kỹ thuật

Việc chế tạo một chiếc ấm trải qua thời gian đã được thử thách và thí nghiệm nhiều kỹ thuật khác nhau, từ luyện nê đến xây lò, nung đất. Thời Đại Bân [một danh thủ nặn ấm đời Minh mạt] còn giã nhỏ đồ sứ làm thành hồ để nặn ấm mới. Gần đây, một số công tác đã được nghiên cứu theo lối khoa học hiện đại nên càng ngày càng rút tỉa được những kinh nghiệm quí báu. Để cung ứng cho nhu cầu ngày càng cao, một số công ty đã cố gắng tái tạo một số ấm chén theo kiểu đồ sứ thời Tống, thời Nguyên. Tuy ấm đất chưa có những tiêu chuẩn nhất định về độc ẩm, song ẩm, quần ẩm ... nhưng học hỏi kinh nghiệm, kế thừa kỹ thuật là điều cần thiết và càng ngày chúng ta càng thấy mới mẻ về hình dáng lẫn chất liệu.

Hình dáng

Hình dáng thay đổi theo từng thời kỳ, muôn hình vạn trạng. Hầu như trong lãnh vực tạo hình, ấm đất đã được chế tạo đa dạng hơn hẳn các loại đồ gia dụng khác.

Giai đoạn đầu tiên, ấm được nặn giả làm đồng cổ, hình đa giác, mũ nhà sư, cho chí hình dẹt, hình ống. Những đời sau cũng bắt chước chỉ thêm các hoa văn, chữ viết hay điêu khắc cho lạ kiểu. Đến gần đây, hình thù lại càng đa dạng nhưng không thích hợp cho việc pha trà.

Về dung lượng, có những ấm nhỏ để trang trí nhưng cũng có những ấm thật to mà người thợ muốn nặn cho khác thường. Thông dụng nhất là các loại dùng để pha trà, khoảng từ 120 đến 400 cc dùng cho một đến bốn, năm người.

Trang trí 

Trang trí và điêu khắc trên thân ấm, nắp ấm cũng là một cách để gửi gấm ước vọng, trình độ của chủ nhân. Ngày xưa, nhiều nho sĩ tự tay mình đề thơ hay vẽ hình trước khi cho vào lò nung. Ngày nay, phần lớn ấm được sản xuất với số lượng lớn, chỉ những ấm nặn tay hay đặc biệt mới có thêm điêu khắc hay chữ viết, nhìn vào thư pháp hay nội dung có thể đánh giá phần nào được trình độ và phong thái của chủ nhân.

Công năng

Thường thì chúng ta mua ấm chú trọng đến hình dáng, kiểu ấm, chất liệu nhưng lại ít để ý đến công dụng chính của chiếc ấm là để pha trà. Một chiếc ấm tốt thường dễ rót, nước chảy ra thông sướng, không tấm tức.

Ấm mới ngày nay thường chặn được lá trà khỏi chui vào vòi làm tắc ấm bằng nhiều lỗ nhỏ  [6 hay 9 lỗ]  thay vì một lỗ lớn hoặc tổ ong hình cầu đục vô số lỗ nhỏ. Nắp ấm cũng cần khít khao, vừa vặn kín hơi. Thông thường nhất, đổ nước vào khoảng 2/3 rồi rót ra, nếu bịt lỗ thông hơi trên nắp, nước ngưng ngay lại không chảy nữa là ấm kín.


QUÁ TRÌNH NẶN THÀNH MỘT CÁI ẤM

Nặn được một cái ấm thuỷ bình trơn [không hoa văn] tuy đơn giản nhưng phải qua 63 thao tác, chia làm 5 giai đoạn:

1. Thân ấm gồm 22 trình tự, bao gồm từ việc chia cục đất thành nhiều phần khác nhau để làm thân ấm, đáy ấm. Sau khi đập dẹt, đất làm thân được cuốn thành hình tròn. Đường nối của thân ấm luôn luôn được đánh dấu để sau này gắn quai ấm. Sau khi làm được thân ấm, người thợ sẽ nối với đáy và khoét thành miệng ấm.

2. Vòi ấm gồm 7 trình tự, quan trọng nhất là làm sao cho thành vòi đều, nước chảy ra không bị tắc và cân xứng với thân ấm.

3. Quai ấm gồm 6 trình tự, sao cho cân với vòi ấm.

4. Nắp ấm gồm 17 trình tự, là phần phức tạp nhất trong việc nặn ấm. Nắp ấm có nhiều phần, dày mỏng không đều, phải vừa với miệng ấm. Những ấm tốt hiện nay có phần chìm rất mỏng và khít, đậy lên không xục xịch chút nào. Sau khi gắn núm trên nắp, người thợ đục lỗ thông hơi để nước có thể chảy ra khi rót.

5. Giai đoạn sau cùng quan trọng hơn cả là ráp tất cả những bộ phận thành cái ấm. Quai ấm, vòi ấm cân xứng và thích hợp, được chau chuốt lại cho mất vết tích đã nối. Thân ấm cũng được chà bóng cho trơn tru và miệng ấm không bị biến dạng trong quá trình nặn ấm.

Một khi mọi việc đều hoàn chỉnh, người thợ mới đóng dấu lên nắp ấm, đáy ấm, tay cầm ... trước khi đưa vào lò nung. Các công việc trên chỉ bao gồm việc hoàn thành cái ấm, còn như vẽ hình hay viết chữ lại thuộc giai đoạn khác. Những chiếc ấm quí, công viết chữ, vẽ hình được tính ngang với việc làm ấm. Nhiều cơ xưởng có một đội chuyên gia làm việc này nhưng những thợ lành nghề có hoa tay thường tự mình đảm trách.

Nhiều chiếc ấm giá cao vọt lên vì có đến ba danh thủ cùng làm, người thợ nặn ấm, người khắc hoa văn và người đề chữ. Một chiếc ấm đẹp có thêm vài chữ nho hay một hai câu thơ thường tạo ra một cảm xúc khó tả nhất là nếu chúng ta hiểu được rằng mỗi động tác đều không thể sửa lại được, chiếc ấm đã hoàn thành cũng giống như một thư pháp gia hạ tay xuống tờ giấy bản, nếu không vừa ý chỉ có cách xé bỏ chứ không có thể tẩy xoá.

TÔI ẤM

Tôi ấm là làm cho ấm mất đi mùi đất trước khi dùng. Ấm mới dù tốt cũng vẫn có những mạt đất li ti, nếu dùng pha trà ngay sẽ có mùi gạch, vừa khó chịu, vừa mất vệ sinh. Do đó, trước khi dùng chúng ta nên dùng giấy nhám đánh sơ qua bên trong ấm, dùng kim móc đi những vụn đất còn sót lại trong các khe nhỏ hay vòi ấm.

Khi ấm đã sạch rồi, nên rửa ấm nhiều lần, cho nước chảy để xem có gì không được như ý chăng? Nắp ấm đôi khi không khít lắm tuy hiện nay những ấm tốt thường được mài hay tiện lại cho thật vừa. Chúng ta cũng nên dùng nắp ấm xoay quanh miệng ấm một vài vòng để hai bên cọ sát với nhau cho thật tròn, không bị vướng hay hóc.

Ấm Nghi Hưng là loại không tráng men, có những khí khổng li ti (pores) nên uống trà một thời gian, cao trà đóng vào sẽ bít đi những kẽ hở và tạo nên một hương vị riêng. Vì thế ấm cũ thường kín hơn ấm mới và nhìn cao đóng quanh nắp ấm chúng ta có thể đoán chừng được ấm đã dùng nhiều hay ít.

Sau khi chuẩn bị, cho ấm vào một cái nồi, đổ bã trà hay trà cũ vào ninh lên chừng 2 tiếng đồng hồ, vừa để cho ấm sạch, vừa để ấm có dịp nở ra cho cao ngấm vào. Sau khi tôi ấm, rửa sạch rồi phơi cho khô trước khi dùng để pha trà. Thường ấm phải dùng vài ba lần mới biết được những ưu và khuyết điểm của nó. Nhiều ấm trông đẹp, đắt tiền nhưng khi dùng lại có những điều không vừa ý, nước chảy không đều, cầm trên cao rót xuống không chảy thành dòng mà tung toé, nhắc không cân, lệch tay, quai rộng hay chật quá ...

Mỗi người chúng ta có vóc dáng riêng, tiêu chuẩn riêng nên ấm cũng như áo, vừa với người này mà chưa hẳn thích hợp cho người khác. Việc pha trà cũng cần thoải mái nên nếu như ấm có điều bất toàn, trà thủ sẽ không cảm thấy tự nhiên.
Hình 5: Ấm Nghi Hưng từ thuyền buôn bị đắm

THẾ ĐỨC GAN GÀ ... 

Thứ nhất Thế Đức gan gà,
Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần.


Nghi Hưng [hay tên cũ Dương Tiện] nằm ở phía tây Thái Hồ [ngã ba của các tỉnh Giang Tô, An Huy, Chiết Giang] là một khu vực chuyên sản xuất đồ bằng đất nung, nổi tiếng nhất là ấm trà. Vùng Nghi Hưng có những mỏ đá, được khai thác và qua một chu trình biến chế trở thành đất nặn ấm. Tuỳ loại đất, loại mỏ người ta có được những sản phẩm khác về chất, về màu. Do đó nói ấm Nghi Hưng là nói chung về ấm đất không tráng men [unglazed].

Như chúng tôi đã đề cập, đất nặn ấm bao gồm ba loại chính: chu nê [朱泥], đoạn nê [緞泥] và tử sa [紫砂]. Hai màu tím nâu [tử sa] và đỏ [chu nê] thông dụng nhất. Đoạn nê là loại đất màu vàng hơi ngả màu xanh lục.
Về màu gan gà, hiện nay có hai giải thích xem ra đều có lý. Một lối giải thích chính thức [theo nghĩa trong từ điển] cho rằng màu gan gà “tả màu vàng hoặc xám vàng, giống như màu gan của gà (thường nói về đất sét)”. Đây là định nghĩa trong Từ Điển Tiếng Việt do Viện Ngôn Ngữ Học [Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam] (Hà Nội: Trung Tâm Từ Điển Ngôn Ngữ, 1992) tr. 373. Định nghĩa này còn có thêm “đất gan gà, vách đá gan gà” làm thí dụ. Đây hẳn là màu miếng gan gà đã luộc chín cắt ra bày lên đĩa.

Cũng theo cách giải thích này, Từ Điển Việt Hán [giáo sư Đinh Gia Khánh hiệu đính], (Hà Nội: Bộ Đại Học và Giáo Dục Chuyên Nghiệp, 1990) tr. 414 định nghĩa “gan gà 1-鷄肝 [kê can] 2-黄色 [hoàng sắc]” với thí dụ “đất gan gà - 黄色土 [hoàng sắc thổ]”.
Một số từ điển tiếng Việt khác chúng tôi tra cứu lại không rõ, nói đúng ra là không định nghĩa gì cả. Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (Hà Nội: Trung Bắc Tân Văn, 1931) tr. 202 viết “Gan gà: Màu như màu gan gà: Đất gan gà”. Đại Từ Điển Tiếng Việt [Nguyễn Như Ý chủ biên] do Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hoá Việt Nam [Bộ Giáo Dục và Đào Tạo] (Hà Nội: Văn Hoá-Thông Tin, 1999) tr. 705 viết “gan gà: Màu của đất giống như màu gan của con gà: đất gan gà”.


Hình 6: Ấm màu gan gà
Tuy nhiên, ngoài màu vàng ở trên, một lối giải thích khác không hẳn là vô lý. Màu gan gà là màu nâu sậm, ẩn màu tím của lá gan con gà còn tươi khi mới mổ. Màu này cũng chính là màu tía theo nguyên thuỷ chữ Hán trong “tử sa”. Nếu như thế, ấm gan gà là ấm tử sa màu nâu sậm là màu khá thông dụng cho các loại ấm đất, chỉ sau loại màu đỏ gạch. Cụ thể là trong số những ấm đất mà người ta tìm thấy trong các thuyền buôn bị đắm thì hầu như chỉ có hai loại ấm màu đỏ [chu sa] và ấm màu nâu [tử sa], không thấy ấm màu vàng [đoạn nê] là loại mà ngay ở Trung Hoa cũng ít thấy. Nếu xem tận mắt lá gan gà chưa luộc chín thì màu sắc quả rất tương đồng với những ấm tử sa loại tốt. Do đó ấm gan gà mà cổ nhân mua được chính là ấm tử sa màu nâu sậm, không phải ấm màu vàng. Đây là một giả thiết được bằng hữu góp ý, người viết chỉ đưa ra cho rộng đường dư luận.

Thực ra “Thế Đức gan gà” mà các cụ ta nhắc đến không phải là ấm số một trong các loại ấm Nghi Hưng. Dưới thời Minh Thanh [và cả sau này thời Dân Quốc], người Trung Hoa có một mạng lưới thương mại rất rộng, hầu như khắp nơi trên thế giới. Đồ sứ, đồ đất nung là những món hàng được ưa chuộng. Riêng các quốc gia Đông Nam Á, ấm đất được chở sang gồm nhiều hiệu khác nhau nhưng Thế Đức Đường [世德堂] là loại nổi tiếng nhất, kế đó là ấm nhỏ hình quả lê theo hai kiểu Lưu Bội, Mạnh Thần. Khi chọn ấm, phân biệt Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần là nhãn hiệu ở đáy ấm, thường là chữ viết hay con dấu. Thế Đức Đường là tên một hãng sản xuất, Lưu Bội và Mạnh Thần trái lại là tên của hai danh sư chuyên nặn ấm đời Minh. Về sau, một số kiểu ấm của hai vị này được hình danh, gắn liền với tên trở thành hai cái tên ấm  -  ấm Lưu Bội, ấm Mạnh Thần. Khi ba cái tên Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần được gộp chung lại  xem ra có điều bất ổn vì một đằng là thương hiệu, một đằng là kiểu ấm. Trong những ấm mới hiện nay, không thấy ấm giả mang dấu Thế Đức [Đường]. Những loại Lưu Bội, Mạnh Thần mà các cụ nói đến là kiểu ấm chứ không phải do hai danh thủ Lưu Bội hay [Huệ] Mạnh Thần [đời Minh] hơn năm trăm năm trước nặn rồi chở thuyền sang bán ở bên ta.(4)

Hình 7: Ấm hiệu Thế Đức Đường
Nói chung, ba tên này là ba hiệu ấm thông dụng nhất nhập cảng vào nước ta hồi thế kỷ XVIII, XIX. Ngày xưa chẳng mấy ai đủ tiền để mà so sánh hơn kém nên hai câu: “Thứ nhất Thế Đức gan gà, Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần” được người nọ truyền cho người kia như một câu “thần chú” để khi mua khỏi bị lầm. Thời xưa, việc có được một chiếc ấm là đại sự, không phải như chúng ta hôm nay, muốn mua bao nhiêu cũng có.

Thực ra, ba hiệu này cũng có nhiều thành phẩm, tốt xấu tuỳ loại, tuỳ hàng, tuỳ đợt ... việc khẳng định một cách võ đoán như trên chưa hẳn đã đúng. Có điều khi đã thành định kiến rồi thật khó thay đổi. Cho đến nay, hai loại Thế Đức và Lưu Bội hầu như tuyệt chủng nhưng ấm Mạnh Thần thì có nhiều, không phải vì tên hiệu mà vì kiểu ấm được nhiều người biết đến.

Lưu Bội: không rõ năm sinh, năm mất. Một số chuyên gia đoán rằng ông sống vào thời Thanh sơ, cũng có người cho rằng ông thuộc đời Minh mạt hay sớm hơn nữa, đời Gia Tĩnh.

Hình 8: Ấm hiệu Lưu Bội

Lưu Bội nổi tiếng về các loại ấm chu nê nhỏ, hiện nay còn lại không nhiều. Dương Tiện Sa Hồ Đồ Khảo [陽羨砂壺圖考] liệt kê 5 chiếc:
-  Chiếc thứ nhất do Đường Thiên Như sưu tầm được, thuộc loại chu nê nhỏ, dưới trôn ấm có dấu viết năm chữ “Dĩ Tri Cấp Cổ Công” [以知汲古功] và ký tên “Lưu Bội Chế” [留珮製], chữ chìm.
-  Chiếc thứ hai do Phi Vân Lâu cất giữ, cũng là loại ấm chu nê nhỏ, dưới đáy có hai chữ “Thính Đào” [聽濤] (nghe tiếng sóng vỗ), khắc bằng dao tre, trong nắp có ấn kiềm hai chữ “Nguyên Giang” theo lối triện, vành nắp có viết hai  chữ “Lưu Bội”.
-  Chiếc thứ ba do Bất Đam Các cất giữ, dưới đáy có viết sáu chữ “Lưu Bội Chu Nê Tiểu Hồ” nét tương tự như của Đường Thiên Như.
-  Một chiếc khác cũng do Bất Đam Các sưu tầm được, có sáu chữ “Lưu Bội Chu Nê Tiểu Hồ” theo lối thảo.
-  Chiếc thứ năm do Trương Hồng giữ, dưới đáy có sáu chữ “Lưu Bội Chu Nê Tiểu Hồ”, dưới nắp có dấu kiềm “Nguyên Giang”.(5)
Nếu đúng như thế, ấm do chính tay Lưu Bội nặn ngày nay không còn nhiều. Những ấm có đóng dấu Lưu Bội tuy cũ thật nhưng đều thuộc dạng ấm thương mại được sản xuất hàng loạt. Thỉnh thoảng trên internet cũng thấy một hai chiếc ấm Lưu Bội hay Mạnh Thần để bán và thường được mua với giá từ 100 đến 400 dollars, tuỳ loại, tuỳ kiểu, xem ra cũng không phải là đắt lắm, nếu có dư dật và kiên nhẫn một chút có thể mua được.

Về Mạnh Thần, theo chính những hàng chữ viết thì ông sống vào đời Minh Thiên Khải (1621-1627) qua tới đời Sùng Trinh (1628-1644). Ông thường nặn loại ấm nhỏ tròn, khắc chữ bằng dao tre, trong nắp có hai chữ “Vĩnh Lâm” bằng chữ triện(6). Ấm Mạnh Thần chế tạo đa số là ấm chu nê và tử sa, chỉ có rất ít ấm bằng đoạn nê. Các loại ấm cỡ trung và đại cũng hiếm. Trong các ấm cổ, dường như ấm Mạnh Thần được người ta “nhái” nhiều hơn cả và cũng là loại ấm nhỏ thông dụng nhất. Tuy nhiên, ấm do chính tay ông làm không dễ kiếm và đều ở trong tay các nhà chuyên môn hay viện bảo tàng. Các loại ấm thương mại Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần xuất hiện trong sách phần lớn là loại “thuỷ bình”(7), tay cầm, miệng ấm và vòi ấm ngang nhau [còn gọi là “tam sơn tề”]. Đặc tính này cũng trở thành một tiêu chuẩn để chọn ấm [bằng cách lật úp trên một mặt phẳng, hoặc thả vào nước xem có cân không]. Ấm có ba điểm ngang nhau sẽ không bị tràn nước ra khỏi vòi khi rót đầy. Tuy nhiên, theo cách thức pha trà ngày nay, ấm luôn luôn được để trong một cái tô lớn [trà thuyền] nên việc nước trào ra hay không cũng không còn là vấn đề. Việc quai ấm phải ngang với miệng ấm cũng không còn là một trọng điểm vì thực ra quai ấm không liên quan đến mực nước mà để cho thuận tiện, quai ấm nhiều khi được chế tạo cao hơn miệng bình để khi rót không phải nâng lên, dễ cầm hơn có quai ngang với thân ấm.

Hình 9: Ấm Mạnh Thần

Việc lật úp ấm lên mặt bàn cũng chỉ áp dụng được cho những loại ấm đơn giản, kiểu cổ. Ngày xưa ấm đem sang bán ở nước ta thường là loại thương mại, được chế tạo với số lượng lớn, ít khi được điểm xuyết bằng tay, cái tròn cái méo không đều nên phương thức giản dị để chọn một cái ấm đẹp và tốt khi đến hiệu buôn là cần thiết. Những cách thức mà nhà văn Nguyễn Tuân nhắc đến nên được hiểu và áp dụng trong khung cảnh xã hội Việt Nam cách đây 100 năm, thời đại mà dân trí thấp, nghèo nàn, buôn bán đều là tiểu thương, ngày nay những tiêu chuẩn đó không có giá trị bao nhiêu.

Hình 10: Một trà quán ở Nam Kinh khoảng 1930
The Book of Tea, tr. 105


THƯỞNG TRÀ

Trong lịch sử, kỹ nghệ làm ấm phát triển rất giới hạn, không phát triển độc lập mà có những tương ứng nhất định với kỹ nghệ trồng và chế biến trà. Khi việc xuất cảng trà trở thành quan trọng và trà Tàu được bán ra ngoài với số lượng lớn, việc bán ấm, nặn ấm cũng phát triển theo. Khi vào những quốc gia Đông Nam Á, chỉ thành phần Hoa kiều và một số nhỏ giới nho sĩ, trưởng giả địa phương mới mua ấm đất để dùng. Ở nước ta, số ấm cũ còn lại rất ít, cũng không đẹp như những ấm cổ ở Hoa lục hay Đài Loan.

Ấm dùng để pha trà nên nếu quá “đẹp” thì thường không tiện dụng. Những loại ấm cầu kỳ ngày xưa không ai mua vì cổ nhân chưa đạt đến mức mua ấm để trưng, bỏ tiền mua về mà không dùng đến. Cho nên ấm cũ nghĩa là đã có người dùng pha trà nhiều lần, lưu truyền trong gia đình như một món đồ gia dụng. Không đạt được những tiêu chuẩn chính yếu của một ấm đất pha trà chắc chắn không ai giữ đời này qua đời khác làm gì. Cũng vì thế, hiếm có ấm nào tốt mà lại còn nguyên vẹn, không hư hao theo thời gian. Miệng ấm, nắp ấm, vòi ấm, tay cầm khó có thể còn hoàn hảo như mới mà sứt mẻ ít nhiều lại không có phương tiện để hàn chắp, vỡ rồi đành chịu(8). Trong sách còn hình ảnh những ấm cổ bị nứt vỡ phải khoan rồi dùng nhiều đinh đồng kiềm lại đủ biết việc tái tạo rất nhiêu khê.

Ngày xưa, trà cũng đắt, là một “xa xỉ phẩm”, ấm của người phong lưu thường nhỏ bằng nắm tay trẻ con [độc ẩm] hay hơi lớn hơn một chút [song ẩm] rót đầy vài chiếc chén bé bằng hạt mít. Nói là thế, chỉ khi nào có khách quí chủ nhân mới đem trà Tàu ra đãi, còn bình thường trong gia đình dùng ấm lớn pha trà [khô hay trà tươi, lá vối] dùng với chén lớn trong việc giải khát hay tráng miệng.

Theo giá cả ngày xưa, một cân trà [Tàu] giá lên đến một tháng lương, nhiều loại lên đến cả năm lương. Đó là tính theo tiền Âu Châu, ở các nước Á Châu chắc còn hơn. Đắt như thế nên giới trung lưu thường không dám mơ đến chuyện uống trà Tàu(9). Ngược lại, thời đại hôm nay kinh tế thị trường mang tính toàn cầu, việc uống trà không còn là một thưởng ngoạn dành cho thiểu số, ấm đất cũng được làm lớn hơn, chén cũng to hơn cho tương ứng với sinh hoạt. 

Phú quí sinh lễ nghĩa, việc uống trà cũng thành cầu kỳ, nhiều loại trà cụ và nghi thức cũng phức tạp hơn mặc dầu ngay cả tại Trung Hoa và Đài Loan, cách thức uống trà, chơi ấm vẫn chưa thống nhất. Một số tác giả đã kết tập các cách chọn trà, chọn ấm, pha chế và nghi thức cho thành bài bản, nhiều địa phương còn có những buổi tập huấn hay chỉ dẫn cho những hội viên của các câu lạc bộ thưởng ngoạn(10).

CON DẤU VÀ CHỮ VIẾT

Khi nghiên cứu về con dấu đóng trên ấm, những người chơi đồ cổ có cả một công trình để phân biệt thực hư vì kiểu ấm luôn luôn liên quan đến thời đại và sáng tạo của các danh thủ. Con dấu và cái hồn [spirit] của chiếc ấm cho biết tác phẩm đó được xuất hiện thời kỳ nào và là một dấu hiệu xác định giá trị của chiếc ấm đó. Thế nhưng con dấu cũng chính là chỗ mà kẻ gian hay làm giả nhất. Nhiều chiếc ấm giả cổ hay giả danh [làm giả của các danh thủ] làm rất khéo, để bên cạnh cũng khó ai phân biệt được.

Cứ theo sách vở, việc khắc hay đề thơ chỉ mới được xuất hiện khá trễ khi việc nặn ấm đã trở thành một nghệ thuật, không còn ý nghĩa nguyên thuỷ là hoàn thành một dụng cụ uống trà. Ấm đất cũng giống như văn phòng tứ bảo [bút, nghiên, giấy, mực] nay là một phần trong sinh hoạt của văn nhân. Vì thế, những câu thơ, chữ viết khắc trên ấm nói lên ước vọng và tâm tư của người chủ. Một đôi câu thơ hay dễ động lòng người hơn là chỉ những lời chúc tụng sáo rỗng. Chiếc ấm mới tôi vừa mua có viết hai câu thơ rất hay của Nguỵ Dã:
Tẩy nghiễn ngư thôn mặc,
Tiễn trà hạc tị yên.
洗硯魚吞墨
煎茶鶴避煙(11)
Rửa nghiên cá nuốt mực
Nấu trà hạc tránh khói

Tuy chỉ tổng cộng 10 chữ, chúng ta cũng hình dung được nhà nho đang ngồi viết, làm thơ bên cạnh một hồ nước với những con cá lượn và một tiểu đồng quạt nước pha trà, chung quanh là những con hạc lững thững rất nhàn tản, một khung cảnh vừa thanh bình, vừa phong lưu.

Những chiếc ấm của Đài Loan nặn bằng tay gần đây thường có tên người làm, năm chế tạo nên chúng ta dễ biết được làm vào thời gian nào, chứng tỏ đó là ấm thật, không nguỵ tạo, giả cổ. Loại đề chữ như thế đã làm phong cách sưu tầm đi vào một bước mới, không lệ thuộc vào con dấu [rất dễ làm giả]. Việc ghi lại niên đại và tên của nghệ nhân cũng còn là một kiêu hãnh ngầm chứng tỏ sự lương thiện và thành tín, không nhập nhằng, tuy không công khai nói ra nhưng là một xác quyết và bảo đảm về phẩm chất của của ấm Đài Loan. Đôi khi, một chiếc ấm được hình thành bởi ba tác giả khác nhau, một người nặn ấm, một người khắc ấm và một người viết chữ. Nếu cả ba người đều nổi tiếng thì giá trị chiếc ấm tăng lên rất nhiều.

Những chiếc ấm mới còn được dùng như một tấm vải để nghệ nhân gửi gấm một bức tranh, một bài thơ. Có một chiếc ấm tốt, nét chữ khắc lại tinh xảo, câu thơ nhiều ý nghĩa cũng là một cái thú không phải ai cũng biết thưởng thức. Không hiếm người coi bản điêu khắc là tiêu chuẩn quan trọng khi chọn ấm. Chu Quế Trân, một danh thủ ấm Nghi Hưng đã khắc bài thơ thất ngôn luật thi của Phùng Kỳ Dung(12) [馮其庸] trên ấm Mạn Sinh đề lương [ấm có quai vòng lên trên] như sau:

世事從來假復眞,
大千俱是夢中人。
一灯如豆拋紅淚,
百口飄零系此城。
寳玉通靈歸故國,
奇書不脛出都門。
小生也是多情者,
白酒三杯吊舊村。

Dịch âm
Thế sự tòng lai giả phục chân
Đại thiên câu thị mộng trung nhân
Nhất đăng như đậu phao hồng lệ
Bách khẩu phiêu linh hệ thử thành
Bảo ngọc thông linh qui cố quốc
Kỳ thư bất hĩnh xuất đô môn.
Tiểu sinh dã thị đa tình giả
Bạch tửu tam bôi điếu cựu thôn

   Dịch nghĩa
Việc đời xưa nay thật và giả khó phân biệt
Tất cả mọi người ai ai cũng đều như ở trong mộng
Một ngọn đèn nhỏ như hạt đậu mà cũng nhỏ lệ hồng
Huống chi là hàng trăm người phiêu lãng, lênh đênh thì còn đến đâu
Ngọc quí có thể thông được về nước cũ
Sách lạ khó có thể qua được chỗ đô môn
Người học trò nhỏ này cũng là kẻ đa tình
Thôi lấy ba chén rượu suông để nhớ đến thôn xưa

ẤM GIẢ CỔ

Ấm đất là hàng đưa từ Trung Quốc sang, không phải là  sản phẩm của người Việt. Trước đây việc uống trà bằng ấm nhỏ được coi như một biểu tượng thanh cao, trong giới tương đối có học và dư dật. Qua thời gian và nhiều năm binh lửa, ấm trà cũ ở nước ta không còn nhiều, những ấm cũ nay còn thấy cũng không phải là ấm quí do các danh thủ nặn mà chỉ thuộc mặt hàng thương mại, giá trị trung bình.

Cũng như các sưu tập thông dụng của người Trung Hoa như thư pháp, hội hoạ, nghiên cổ, đồng cổ ..., thú sưu tầm ấm trà nếu có cũng chỉ mới được du nhập vào Việt Nam trong thời gian gần đây. Xã hội nước ta vì chiến tranh, vì sinh hoạt nên ít có những món gia bảo truyền đời này sang đời khác như ở bên Tầu. Phần lớn chúng ta uống trà bằng bình tích giữ trong ấm ủ lót bông, trà cũng là loại trà thường nên khó có gia đình nào giữ được ấm quí. Thành thử, những người chơi ấm hiện nay đều nhắm vào ấm đất sản xuất ở Nghi Hưng(13).

Theo những người lão luyện, nếu có nhiều tiền và muốn sưu tầm ấm cổ thì việc đầu tiên là làm quen với ấm, trước hết là vào những viện bảo tàng nhìn ngắm những bộ sưu tập trưng bày trong đó. Tuy nhiên, đó là ở những khu vực đông người Hoa hay tại chính quốc chứ những người như chúng ta thì cũng khó có dịp.

Hình 11: Trà Cụ Văn Vật Quán [Hongkong]

Việc làm quen với ấm đất do đó chỉ còn cách là mua một số sách viết về ấm Nghi Hưng để nhìn hình cho có một khái niệm. Ấm mang nhãn Mạnh Thần thì khá nhiều nhưng ấm đóng dấu Lưu Bội hay Thế Đức [Đường] thì rất ít, cũng không phải là loại ấm hảo hạng. Trong những sách vở và biên khảo về ấm đất, tôi chưa thấy có những chi tiết cụ thể về hai thương hiệu này nên không nghĩ là đây là những món hàng được các đại gia Trung Hoa săn đuổi.

Đã có lúc, ấm Nghi Hưng trở thành một cơn sốt. Đó là khi một số người tương đối khá giả trong cộng đồng người Trung Hoa ở bên ngoài (Đài Loan, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Hoa Kỳ ...) bị mê hoặc bằng những truyện thần kỳ. Khoảng đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, sau một số đợt triển lãm và giới thiệu về ấm Nghi Hưng, nhiều đại gia đi lùng ấm cổ. Có người đã bán cả nhà để mua cho bằng được một chiếc ấm quí. Bảo tàng ấm đất đầu tiên ở Hongkong trình bày bộ sưu tập do tiến sĩ La Quế Tường [Dr. K.S. Lo] cống hiến, được biết dưới cái tên Trà Cụ Văn Vật Quán [Flagstaff House Museum of Tea Ware, vốn là trạch đệ của viên tư lệnh lực lượng Anh tại Hongkong, do đó có tên là Flagstaff House]. Có thể nói, chính viện bảo tàng này đã đưa đến hứng thú cho thanh niên Đài Loan và Trung Hoa, biến thú uống trà thành một phong cách thay thế các ẩm liệu Tây phương đang chiếm lĩnh thị trường.

Người ta cũng tổ chức những cuộc thi tài về nặn ấm. Lần đầu tiên thực hiện năm 1992 có 195 món hàng tham dự và đưa ra những sáng tạo làm thay đổi hoàn toàn kỹ nghệ tử sa. Việc nặn ấm không còn hạn chế trong các thợ đồ gốm mà trở thành một nghệ thuật phải huấn luyện theo những trình tự nhất định, sau đó được cấp bằng và danh vị như những ngành nghề nổi tiếng khác.

Cũng trong giai đoạn mà thiên hạ đua nhau lùng kiếm ấm tốt, một số nghệ nhân chính gốc ở Nghi Hưng [Hoa lục] nhận ra rằng nếu họ bỏ công làm một số ấm thật đẹp thì có thể chuyển ra ngoài một cách bán chính thức, được giá hơn đồng lương chết đói mà xí nghiệp [quốc doanh] trả cho họ. Thế là chẳng bao lâu dậy lên một phong trào tuồn những ấm đẹp theo ngả Hongkong để đi ra những cộng đồng người Hoa ở khắp nơi.

Theo thống kê, những nhà sưu tập Đài Loan đã thủ đắc được nhiều ấm quí với giá tương đối hời, tương tự như mươi năm trước đây một số người Việt ở bên ngoài đã tìm mua được nhiều đồ sứ, tranh quí trong nước với giá rất “phải chăng”, tạo thành một đợt lùng mua cổ ngoạn.

Nghi thức uống trà cũng thành cầu kỳ với nhiều định lệ mà trước đây chưa có. Vô số trà thất được thành lập để làm chỗ tụ hội, trao đổi kiến thức và dĩ nhiên không thiếu việc bàn luận kinh doanh. Chính cơn sốt đó đẩy kỹ nghệ làm ấm và buôn ấm lên gấp bội. Theo tiến sĩ La Quế Tường, khi ông đến viếng thăm Nghi Hưng năm 1979, cả thành phố này chỉ có chừng 400 đến 600 thợ làm ấm. Vậy mà chỉ mười năm sau, số thợ ở đây lên đến 10,000 người và đến nay chắc còn hơn nhiều lần nữa. Giá ấm cũng từ vài chục cents nay lên đến hàng chục, hàng trăm dollars.

Hiện nay trên thị trường có bán rất nhiều ấm giả cổ, hình dáng, con dấu ... được chế tạo rất tinh vi, trông như thật. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia về ấm, việc tìm được một chiếc ấm cổ thật thiên nan vạn nan. Những chiếc ấm do các danh sư nặn nay đều nằm trong viện bảo tàng và là sở hữu của một số người chơi đồ cổ kỳ cựu. Dù với giá rất cao, chiếc ấm mà chúng ta mua được đa phần là đồ giả, trừ khi có rất nhiều tiền còn người thường chẳng nên tìm kiếm mất công.(14)

Những nghệ danh Cung Xuân, Thời Đại Bân, Trần Minh Viễn, Huệ Mạnh Thần ... được khai quật và khá nhiều ấm [dĩ nhiên không phải đồ thật] mang tên những hảo thủ này. Hàng nhái rất khéo, khéo đến nỗi chính những người sành sỏi cũng nhầm, để hai chiếc một giả, một thật vẫn không phân biệt được. Ấm được làm cũ đi bằng cách ngâm trong nước trà, phơi nắng, vứt lăn lóc ngoài xó vườn, góc sân, hay chôn xuống đất, có khi còn gõ cho mẻ một miếng để cho có vẻ thật. Đó là chưa nói đến những tiểu xảo bịp bợm khác rút ngắn thời gian nhanh hơn như bôi dầu nhớt, bồ hóng .... cho có vẻ cũ kỹ.

Để gia tăng độ cổ kính, các chuyên gia cũng có nhiều cách tương đối “vương đạo” hơn như dùng máy tôi, thổi lên ấm hơi nước trà li ti trong một thời gian để làm cao hay chuyển ấm từ một nơi thật nóng nhúng vào nước trà rồi chuyển sang một nơi thật lạnh để ấm hút tinh trà vào đất, gia tốc độ thẩm hương giống như một chiếc ấm dùng đã lâu. Những chiếc ấm dùng trong thử thách này thường là ấm tốt, việc lão hoá chỉ là một thủ thuật phụ để tăng trị giá thực của chiếc ấm chứ không nhằm mục đích đánh lừa người mua.

Tuy nhiên, dù gì chăng nữa, ấm tốt đến đâu cũng có giới hạn của nó. Những sự tích ly kỳ về ấm, về trà chỉ nên coi là dật sự đem đến cho cái thú này một màu sắc văn hoá hoang đường hơn là sự thật. Thế nhưng những dật sự đó đã biến một ngành thủ công nghệ tầm thường thành một động lực thu hút người mua, đóng góp khá nhiều vào kinh tế khiến Trung Hoa vươn được cánh tay ra khắp năm châu rồi đến nay thành một con bạch tuộc trăm vòi, ở đâu cũng có.

ẤM NGHI HƯNG

Dưới thời Dân Quốc khi thế chiến thứ II bùng nổ, ấm Nghi Hưng đã ngưng sản xuất cho tới sau khi Mao Trạch Đông chiếm được Hoa lục. Tuy kỹ nghệ nặn ấm được phục hồi [1953] nhưng thời gian đầu do các hợp tác xã quản lý và hàng chỉ đóng dấu “Trung Quốc Nghi Hưng” mà không đề tên người nặn, được sản xuất theo qui mô lớn cho đại chúng. Theo thời gian và nhu cầu tiêu thụ, càng ngày hàng Nghi Hưng càng đa dạng cả phẩm lẫn lượng.

Từ khi hàng Trung Quốc tràn ngập thị trường thế giới, ấm Nghi Hưng được tung ra rất nhiều, đâu đâu cũng thấy bán với giá rẻ, có khi hàng lố. Ấm cũng thường bán nguyên cả bộ [bao gồm ấm trà, ấm chuyên, chén và đĩa...] đặt trong hộp gỗ, lót vải mềm trông rất mỹ thuật nhưng phẩm chất chỉ từ trung bình đến kém, ít khi có bộ nào đẹp. Theo những nhà nghiên cứu, hiện nay đất chính gốc Nghi Hưng không còn nhiều, chỉ là đất lấy từ các nơi khác, có khi pha trộn hoá chất. Duy nhất còn có đất tử sa để làm ấm là công ty nổi tiếng Nghi Hưng Đệ Nhất Xưởng vì họ làm chủ một mỏ đất vẫn còn đang khai thác tại đây(15). Cũng nên nói rõ, tử sa làm ấm không phải là đất sét như những loại đồ sứ thường mà là đá được nghiền nát, qua một quá trình tinh luyện dài. Kỹ thuật ngày xưa chưa cao, chưa dùng máy móc nên đá đào về phải đập nhỏ, nghiền bằng xe lăn do trâu kéo, giã bằng tay rồi sàng lọc qua nhiều giai đoạn cho đến khi có thể dùng để nặn ấm(16). Thành thử ấm cũ [người ta gọi là nguyên khoáng] không thuần sắc, hạt thường lớn vì chu trình chế tạo  theo lối thủ công, chỉ ấm ngày nay dùng máy nghiền nên mới mịn mặt. Tuy nhiên những ấm đất nổi hạt to, có lẫn những mảnh đá li ti [khác màu] thường giá lại cao vì là đồ đất cũ, dùng nguyên liệu biến chế từ ngày xưa nay còn lại, khác với loại ấm làm bằng đất mới, nhẵn và bóng. Ấm  tử sa sau khi nung rồi rất cứng có thể chịu được một lực ép thật cao, gõ lên thành tiếng kêu thanh và cao như tiếng khánh. Bỏ ra ngoài yếu tố thời gian của những món đồ cổ, về kỹ thuật cũng như mỹ thuật, ấm mới tốt và đẹp hơn [nếu chúng ta chọn loại hàng có phẩm chất cao] mà giá cả lại rẻ hơn nhiều.


ẤM ĐÀI LOAN

Trên thị trường hiện nay, có thể nói rất khó mua được một chiếc ấm từ chính tay một nghệ sư nặn, mặc dù nhiều nơi còn cung cấp thêm cả hình người thợ cầm chiếc ấm mình đã mua làm chứng thư bảo đảm. Những chiếc ấm từ Hoa lục tuy có năm ba con dấu riêng nhưng rất ít khi nào có những chữ viết tay của tác giả và  thường không ghi niên đại hay thời điểm làm ấm, bỏ ngỏ một chi tiết quan trọng mà người mua nào cũng muốn biết.

Riêng ấm Đài Loan, những chiếc ấm đắt tiền [không đắt như ấm cổ nhưng trong khoảng từ 100 đến 500 USD] thì đều có những dòng chữ viết tay, ký tên tác giả và nhất là có cả năm làm ấm. Ngày tháng [có khi đề theo dương lịch] giúp chúng ta biết chắc đã sở hữu chiếc ấm đó được bao lâu, khỏi mất công đoán mò [mà đoán mò thường luôn luôn theo chiều hướng có lợi cho mình] để rồi phải bẽ bàng khi thực tế không giống như kỳ vọng. Những người nặn ấm ở Đài Loan không được xếp hạng và chứng nhận của chính quyền như tại Hoa lục [ở đại lục các ngành nghề đều do chính quyền quản lý] nhưng một số cũng tạo được tiếng tăm khá lớn và những ấm mang chữ ký của họ đều được đánh giá cao.

Theo nhiều nguồn tin, ấm Trung Quốc bây giờ không còn dùng đất sét nguyên thuỷ mà pha chế nhiều thứ để màu sắc thêm tươi đẹp, biết đâu chả có những kim loại độc hại? Ngược lại, ấm Đài Loan nay được áp dụng nhiều kỹ thuật mới, được nghiên cứu một cách khoa học, đất sét pha độ dính nhiều nên có thể tạo được những chiếc ấm cầm nhẹ tênh, thành rất mỏng tỏ lộ tài điêu luyện của nghệ nhân nên có những cám dỗ mà khó ai diễn tả được.(17)

Ấm Đài Loan giản dị, ít cầu kỳ, nhưng luôn luôn tiện dụng. Trước đây hãng trà Thiên Nhân cũng vẽ nhiều kiểu mới, có nét độc đáo riêng nhưng gần đây vì theo đuổi mục đích thương mại nên ấm Thiên Nhân chỉ còn vào loại trung bình, tuy chắc chắn nhưng nặng nề, màu sắc cũng u trệ, dùng lâu không lên nước làm mất đi cái thú của người uống trà. Ấm trà Thiên Nhân là sản phẩm của hãng Lục Vũ [hình như Lục Vũ cũng thuộc công ti Thiên Nhân], tuy không xô bồ nhưng ít loại thượng đẳng, nhiều kiểu mới nhưng không có tính độc đáo. Cũng chính Thiên Nhân vẽ kiểu cho một số trà cụ và tiêu chuẩn hoá một số định lệ nay đã trở nên thông dụng. Gần đây hãng Thiên Nhân đã chuyển hướng sang bán các loại trà Hoa lục và ấm Nghi Hưng, tuy chiều được số đông nhưng không còn giữ được danh tiếng cũ. 

KẾT LUẬN

Ấm trà ngày nay đã trở thành một món đồ gia dụng được nhiều người ưa chuộng. Trong tủ những gia đình Việt Nam thường có một vài chiếc ấm Nghi Hưng xen với các loại đồ sứ của chủ nhân. Ở nước ta hiện chưa có một viện bảo tàng chuyên về ấm đất nhưng trên thế giới, nhất là tại những nơi đông người Trung Hoa, thì khá phổ thông. Ngoài Trà Cụ Văn Vật Quán ở Hongkong, Hàng Châu Trà Khoa Quán ở Hàng Châu, Thiên Phúc Trà Bác Quán ở Chương Châu [Trung Quốc], Tĩnh Cương Bác Vật Quán ở Nhật Bản và Bình Lâm Trà Nghiệp Bác Vật Quán ở Đài Loan là bốn viện bảo tàng nổi tiếng trên thế giới.

Song song với sự phát triển của mậu dịch toàn cầu, kỹ nghệ trà và ấm đã trở thành một khu vực kinh tế quan trọng của một số quốc gia vùng Đông Á. Riêng trong kỹ nghệ nặn và sản xuất ấm, chỉ trong mươi năm, nhiều đợt cải tiến về cả hình dáng, màu sắc, chất liệu ... tạo nên những thu hút trước đây chưa từng có. Ấm tốt làm tại Đài Loan hiện nay có hai hãng Tam Hy [三希] và Đào Tác Phường [陶作坊]. Tam Hy chuyên về ấm đất loại cao đẳng còn Đào Tác Phường thì bán nhiều đồ sứ tráng men. Đời Tống, đồ sứ Trung Hoa nổi tiếng với năm loại Nhữ, Quân, Quan, Ca và Định Diêu [汝,鈞,官,哥,定窯] trong đó Nhữ Diêu(18) màu xanh có ẩn màu lam là thượng phẩm mà cổ nhân đã ca tụng bằng hai câu thơ:
雨過天青雲破處
者般顏色作將來
Vũ quá thiên thanh vân phá xứ,
Giả bàn nhan sắc tác tương lai.
Sau trận mưa, ánh nắng xuyên qua đám mây
Mọi màu sắc đều xuất hiện ở món đồ sứ này

Trong nỗ lực cải tiến để tìm kiếm sự độc đáo, Đào Tác Phường nay đã tái  tạo được nhữ diêu [nung ở nhiệt độ 12700C] và sản xuất những bộ đồ trà rất nhã nhưng vì giá thành cao nên chỉ bán ra với số lượng nhỏ. Những bộ ấm này dùng một thời gian có những vết rạn trông càng thêm cổ kính như một bằng chứng đánh dấu giao tình giữa đồ vật với chủ nhân.

Những loại ấm chén theo kiểu quân diêu, quan diêu, ca diêu, có khi pha trộn nhiều hình thức cũng được ưa chuộng trong giới sưu tầm ấm chén. Tuy nhiên, phần đông các trà thủ vẫn thích các loại ấm đất không tráng men kiểu cổ nên các ấm sứ vẫn chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong sản xuất.

Hình 12: Ấm và chén nhữ diêu do Đào Tác Phường chế tạo

Ở nước ta, tuy uống trà Tàu đã phổ biến trong giới thượng lưu từ thời Lê, thời Nguyễn nhưng đại đa số quần chúng vẫn uống chè tươi, chè nụ, chè vối ... như trong tiểu thuyết thời tiền chiến. Chỉ từ khi nhà văn Nguyễn Tuân đề cập đến trong một số truyện ngắn, người nước ta mới quan tâm đến ấm trà bằng đất nung. Tuy nhiên, thú vui này không mấy phổ biến nên ngay cả những người chơi đồ cổ khi nhắc đến ấm Nghi Hưng cũng không chính xác.

Gần đây, trong nước đã xuất hiện một số câu lạc bộ uống trà, nâng thú thưởng ngoạn này lên hàng nghệ thuật để tạo một phong cách riêng. Có người còn thậm xưng thành một “văn hoá trà” của người Việt. Người viết chỉ nghe mà chưa được chứng kiến hay tham dự nên không dám lạm bàn.

Tháng 5 - 2010



Chú giải:
(1) Hiện nay có một số đồ sứ Nhật tái tạo các trà cụ nhập cảng từ Việt Nam vài trăm năm trước để bán cho những người sưu tập dưới cái tên Beni-Annam 
(2) Nếu ai muốn biết những chiếc ấm lạ lùng trên thế giới xin đọc Garth Clark: The Artful Teapot (London: Thames & Hudson Ltd., 2001)
(3) Để ý chữ sa [砂] trong tử sa người Trung Hoa viết với bộ thạch là đá chứ không viết bằng bộ thuỷ [?] như cát thường.
(4) Trong một số cổ vật tìm thấy tại những thuyền buôn bị đắm, khá nhiều ấm nhỏ kiểu “quả quít” được tìm thấy chứng tỏ đây là một mặt hàng thông dụng được chở đi bán cho nước ngoài thời Minh Thanh.
(5) Những ấm cổ sưu tập tại Thái Lan, Malaysia cũng có các kiểu ấm Lưu Bội, Mạnh Thần có bịt vàng hay bạc theo sở thích của dân địa phương.
Trích từ Nghi Hưng Tử Sa Từ Điển (2002), tr. 152
(6) Gần đây, số lượng ấm Mạnh Thần được tìm thấy khá nhiều, trong đó có một chiếc ấm màu vàng lớn dưới đáy viết “Đại Minh Thiên Khải Đinh Mão Kinh KhêHuệ Mạnh Thần Chế” nên người ta mới biết ông họ Huệ người đất Kinh Khê.
(7) Thuỷ bình về sau là tên gọi của kiểu ấm nhỏ, thường là độc ẩm có thể nổi trong trà thuyền mà các cụ bảo rằng cân nhau, không triềng.
(8) Đồ giả mạo vì thế cũng hay làm cho sứt mẻ, có khi làm vỡ rồi chắp lại cho ra vẻ cũ để đánh lừa người mua. Kỹ thuật làm cho hàng cũ đi của người Tàu rất tinh vi và thiên biến vạn hoá. Xem thêm Hứa Dật Quần, “Nghi Hưng hồ sơ thức nhập môn toả đàm” [宜興壺初識入門瑣談] phụ bản tạp chí Hồ Nghệ [Teapot] (壺藝) số 11, Đài Loan 2008 và Trì Tông Hiến, chương V “Danh Gia Hồ Quái Trạng Hiện Hình”, Tuyển Hảo Hồ Phao Hảo Trà, Hữu Nghị, 2005 tr. 107-29
(9) Christiaan J.A. Jorg, Michael Flecker: Porcelain from the Vung Tau Wreck: The Hallstrom Excavation (UK: Sun Tree Publishing Ltd, 2001) tr. 54-5   17
(10)  Sái Vinh Chương (蔡榮章) trong Trà Đạo Giáo Thất (茶道教室): Trung Quốc Trà Học Nhập Môn Cửu Đường Khoá  (中國茶學入門九堂課) (Đài Bắc: Thiên Hạ Viễn Kiến, 2002) đã tổng hợp chín bài học cho người tập uống trà, viết tương đối đầy đủ về các loại trà và nghi thức pha, uống để huấn luyện cho trà nhân cũng như những ai muốn đi sâu vào ngành buôn bán trà cụ và trà liệu.  Tuy nhiên, vì trà được trồng ở nhiều vùng, mỗi vùng có một hay nhiều đặc sản nên cũng tự phát triển một lối riêng cho địa phương mình. Ở Đài Loan hiện nay dùng hai chén đựng trà, một chén nhỏ mà cao, một chén rộng miệng. Khi rót, người ta dùng chén hình ống trước, đổ ra chén lớn rồi dùng chén này như một loại bình ngửi để thưởng thức hương trà.
(11) Nguỵ Dã (960-1020) tự Trọng Tiên, hiệu Thảo Đường Cư Sĩ người đất Thiểm Châu đời Bắc Tống.
(12) Học giả Trung Hoa hiện đại [1924-], chuyên nghiên cứu về Hồng Lâu Mộng (Hồng Học).
(13) Trong các sưu tập của người Việt mang màu sắc dân tộc, tôi thấy khá nhiều bộ “bình vôi” [lime pots], kế đó là đồ sứ Chu Đậu còn các loại đồ sứ khác thì hiếm hơn.
(14)  Những chiếc ấm cũ có vẻ thật rao bán trên internet thường được đấu với giá khá cao [thường là ấm thời Dân Quốc], người thắng thường phải trả vài ba trăm trở lên, có mua cũng chẳng làm gì. Thỉnh thoảng tôi cũng thấy một hai chiếc ấm có đề “Huệ Mạnh Thần chế” nhưng chắc chắn không phải là do Huệ Mạnh Thần đời Minh làm ra mà là loại ấm thương mại chế theo kiểu Mạnh Thần [cuối đời Thanh hay đời Dân Quốc]. Những ấm Mạnh Thần loại này thường là chỉ vài chục năm thôi nhưng hình dáng và loại đất tử sa tương đối cũ, có trước phong trào nặn ấm gần đây.
(15) Số mỏ đá để có thể làm ấm không nhiều, phần lớn đã cạn kiệt. Mỗi mỏ phải đào sâu vào trong núi và mỗi lớp đá dùng được chỉ chừng vài mét là cùng. Ấm của Đệ Nhất Xưởng thường được các danh thủ nặn riêng bán với giá khá cao cho những nhà sưu tập.
(16)  Ấm Nghi Hưng thường được xếp vào hạng stoneware chứ không phải clayware.
(17)  Để khỏi lệ thuộc vào nguồn cung cấp từ Hoa lục, các chuyên gia Đài Loan đã nghiên cứu để áp dụng kỹ thuật cao vào việc pha trộn và tìm kiếm nguyên liệu, nhất là phương pháp chế tạo từ Nhật Bản nên hiện nay kỹ thuật làm ấm của Đài Loan được đánh giá là cao hơn của Hoa lục. Một số tỉnh miền Hoa Nam tiếp xúc nhiều với bên ngoài nên cũng phải chiều theo thị hiếu quần chúng nên hiện nay nhiều ấm làm tại khu vực Quảng Châu, Hongkong cũng rất khéo, tương tự như ấm của Đài Loan.
(18) Theo truyền thuyết, nhữ diêu chỉ dành riêng cho cung vua đời Tống, và về sau hiếm đến nỗi vua Càn Long đã phải nói là “ít như sao buổi sớm”. Triều Tiên sau này có loại Koryo cũng có màu sắc tương tự.